Vụ Tập đoàn Mường Thanh: Không thể để người vô tội mất nhà

img
VỤ TẬP ĐOÀN MƯỜNG THANH:

KHÔNG THỂ ĐỂ NGƯỜI VÔ TỘI MẤT NHÀ!

Nhà báo Tô Phán

Hàng nghìn gia đình đã dành dụm cả đời, bán đất ở quê, vay mượn người thân, ngân hàng để mua một căn hộ nhỏ giữa Thủ đô. Họ tin vào những dự án được xây dựng công khai, tin rằng những tòa nhà mọc lên trước mắt chính quyền đã được thẩm định, cấp phép và giám sát theo quy định.

Nhưng giờ đây, chính mái nhà họ từng yên tâm gửi gắm tương lai lại trở thành nỗi bất an. Sai phạm phải được xử lý nghiêm, người gây ra sai phạm phải chịu trách nhiệm. Nhưng không thể để những người mua nhà không có lỗi phải trả giá bằng tài sản và chỗ ở của chính mình.

1

Mái nhà thành nỗi bất an

Tại những tòa chung cư cao hơn 30 tầng của Tập đoàn Mường Thanh ở Linh Đàm, Kiến Hưng (Hà Nội), có hàng nghìn căn hộ chỉ rộng vài chục mét vuông nhưng trong mỗi căn hộ đó chứa đựng cả đời người của các thế hệ. 

Trong những căn hộ ấy, trẻ thơ đang lớn lên, cha mẹ già đang sống những năm tháng cuối đời; những gia đình đã chắt chiu từng đồng, dành dụm qua bao năm tháng mới có được một chốn đi về.

Họ từng đặt niềm tin vào những dự án được xây dựng công khai, rầm rộ giữa Thủ đô. Họ nhìn những tòa nhà từng tầng, từng tầng mọc lên giữa thanh thiên bạch nhật, trước mắt chính quyền và các cơ quan quản lý. 

Họ tin rằng một công trình lớn như vậy hẳn đã được xem xét, thẩm định, cấp phép và giám sát theo quy định. Niềm tin ấy tưởng như bình thường, nhưng lại là điều kiện căn bản để người dân quyết định gửi gắm cả gia tài vào một căn hộ nhỏ.

Vậy mà sau nhiều năm, chính nơi họ gọi là nhà lại trở thành nguồn cơn của nỗi bất an. Họ có thể mất căn hộ, có thể chưa bao giờ được cầm trên tay giấy chứng nhận quyền sở hữu đã phải rời đi khỏi nơi đã gắn bó với gia đình. Điều đau xót là những rủi ro ấy không phải do lỗi của họ.

Nguyên tắc của thực thi pháp luật là ai phạm phải bị xử lý nghiêm minh, người gây ra sai phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý. Nhưng sự nghiêm minh không có nghĩa là mặc nhiên đẩy hàng nghìn gia đình vô tội vào cảnh hoang mang vì sẽ mất nhà, không biết ngày mai mình sẽ sống ở đâu, tài sản đã dành dụm cả đời có còn hay không.

Hãy thử đến khu chung cư Linh Đàm hoặc Kiến Hưng vào một buổi tối. Trong căn hộ vài chục mét vuông, ông bà đang ngồi xem tivi, người cha vừa đi làm về, người mẹ chuẩn bị bữa cơm, đứa trẻ cặm cụi học bài bên chiếc bàn nhỏ. Một gia đình bình thường với những lo toan bình thường: tiền điện, tiền học, tiền thuốc, tiền trả ngân hàng, chuyện ngày mai đi làm, ngày kia đưa con đến trường…

Căn hộ ấy có thể chật chội, thiếu tiện nghi, không sang trọng, nhưng đối với họ, đó là cả một gia tài. Có người đã bán mảnh đất ở quê. Có người rút hết tiền tiết kiệm sau mấy chục năm lao động. Có người vay ngân hàng, vay anh em, họ hàng, thậm chí mang cả tương lai của mình ra đánh đổi để mua được một nơi ở gần con cháu, gần trường học, gần chỗ làm.

Vụ Tập đoàn Mường Thanh: Không thể để người vô tội mất nhà - Ảnh 1.

Trong khi Nhà nước hay nhiều nhà đầu tư khác chưa đáp ứng được nhu cầu về những căn hộ nhỏ với mức giá phù hợp, thì ông Lê Thanh Thản đã đưa ra thị trường những căn hộ như vậy. Vì thế, không ít người từng biết ơn ông, từng coi đó là cơ hội để những người có thu nhập vừa phải có thể chạm tay vào giấc mơ an cư.

Người dân càng có lý do để tin tưởng khi những tòa nhà ấy được xây dựng công khai, có địa chỉ rõ ràng, có hoạt động mua bán, bàn giao, cư dân vào ở. Họ đinh ninh rằng các dự án đã được cơ quan nhà nước sở tại thẩm định, quy hoạch, cấp phép và giám sát. Một người dân bình thường làm sao có đủ chuyên môn, điều kiện và quyền lực để kiểm tra từng bản vẽ, từng quyết định điều chỉnh quy hoạch, từng giấy phép xây dựng?

Vậy mà giờ đây, hàng nghìn gia đình ấy phải sống với những câu hỏi không dễ trả lời: Căn nhà mình đang ở liệu có được tiếp tục tồn tại? Tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu đã mong mỏi, chờ đợi suốt bao năm liệu có ngày được cầm trên tay? Nếu phải di dời, họ sẽ đi đâu? Con cái học ở đâu? Người già nương tựa vào ai? Khoản tiền đã bỏ ra mua nhà sẽ được hoàn trả thế nào? Những khoản vay ngân hàng vẫn còn đó, những món nợ người thân vẫn phải trả, cuộc sống của họ sẽ bắt đầu lại từ đâu?

Đó không còn là câu chuyện riêng của một vài hộ dân. Nỗi bất an len vào từng bữa cơm, từng giấc ngủ, từng cuộc trò chuyện trong mỗi gia đình. Người ta có thể chịu đựng cảnh nhà chật, đường đông, thang máy quá tải, thiếu chỗ gửi xe; nhưng thật khó sống bình yên khi không biết mái nhà của mình ngày mai có còn hay không.

Và điều day dứt nhất là những người mua nhà ấy không phải người lập quy hoạch, không phải người cấp phép xây dựng, không tổ chức thi công, cũng không có quyền lực để giám sát công trình. Họ chỉ là những người lao động bình thường, mua nhà bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt, với niềm tin rằng một dự án được xây dựng công khai ngay giữa Thủ đô hẳn phải nằm trong sự quản lý, giám sát của Nhà nước. Khi sai phạm bị phơi bày, họ lại trở thành những người phải sống trong thấp thỏm, bất an.

2

Ai đã làm ngơ trước sai phạm?

Theo số liệu rà soát của cơ quan chức năng, tại 12 công trình, dự án liên quan đến các doanh nghiệp của ông Lê Thanh Thản, tổng số căn hộ được phê duyệt ban đầu là 6.759 căn, nhưng số căn hộ xây dựng thực tế lên tới 24.943 căn - chênh lệch tới 18.184 căn hộ. Đó là khoảng cách khổng lồ, không thể xem là sai số thông thường hay một vài điều chỉnh nhỏ trong quá trình xây dựng.

Hãy dừng lại ở con số hơn 18.000 căn hộ vượt so với quy hoạch được duyệt. Đằng sau mỗi căn hộ không chỉ là một con số trên giấy. Đó là diện tích đất, kết cấu công trình, mật độ dân cư tăng thêm, nhu cầu trường học, bệnh viện, giao thông, cấp thoát nước, phòng cháy chữa cháy và không gian công cộng… Mỗi căn hộ mọc thêm đồng nghĩa với việc có thêm người sinh sống, thêm áp lực lên hạ tầng và thêm những hệ lụy mà cả cộng đồng phải gánh chịu.

Một tòa nhà cao trên ba chục tầng không thể tự nhiên mọc lên sau một đêm. Nó phải trải qua nhiều tháng, nhiều năm thi công. Những chuyến xe chở vật liệu nối nhau ra vào, những tầng bê tông lần lượt được đổ, những giàn giáo vươn cao, mặt ngoài công trình thay đổi từng ngày. Hoạt động mua bán căn hộ cũng diễn ra công khai. Tất cả đều có thể nhìn thấy, có thể kiểm tra, có thể giám sát.

Vậy mà những sai phạm với quy mô lớn như thế đã không được ngăn chặn kịp thời. Để rồi khi công trình hoàn thành, căn hộ đã bán, người dân đã dọn đến sinh sống, những vấn đề pháp lý mới trở thành nỗi đau dai dẳng của hàng nghìn người mua nhà.

Riêng tại dự án CT6 Kiến Hưng, có 519 căn hộ không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận, trong đó có 437 căn tại tòa CT6C. Theo cáo buộc của cơ quan chức năng, việc bán các căn hộ này đã đem lại cho chủ đầu tư khoản thu lợi bất chính hơn 531 tỷ đồng. Kết luận định giá ngày 10/7/2026 xác định tổng giá trị của 519 căn hộ là hơn 2.000 tỷ đồng.

Các con số ấy đặt cạnh nhau khiến chúng ta không khỏi xót xa. Một bên là khoản tiền rất lớn gắn với hành vi bị cáo buộc vi phạm; bên kia là giá trị tài sản mà hàng trăm gia đình đã bỏ tiền ra mua, nhưng quyền sở hữu vẫn vướng mắc. 

Vụ Tập đoàn Mường Thanh: Không thể để người vô tội mất nhà - Ảnh 2.

Những đứa trẻ sinh ra, lớn lên dưới những toà nhà HH Linh Đàm do Tập đoàn Mường Thanh xây dựng. Ảnh: Dân Trí

Đối với doanh nghiệp, đó có thể là một dự án, một khoản thu, một bài toán kinh doanh. Nhưng đối với người dân, đó là căn nhà, là tài sản lớn nhất của cả đời người, là nơi họ gửi gắm tuổi già, tương lai con cái và sự bình yên của gia đình.

Ngày 18/11/2026 tới đây, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội dự kiến mở phiên tòa sơ thẩm xét xử ông Lê Thanh Thản về tội "Lừa dối khách hàng" liên quan đến dự án CT6 Kiến Hưng. Cùng vụ án, một số cựu cán bộ địa phương bị truy tố về tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng". 

Phán quyết cuối cùng thuộc về tòa án. Tuy nhiên, từ những số liệu và tài liệu đã được cơ quan tố tụng xác định, dư luận có quyền đòi hỏi phải làm rõ trách nhiệm của cả chủ đầu tư lẫn những người được giao nhiệm vụ quản lý, kiểm tra, giám sát công trình.

Không thể xem những sai phạm ấy chỉ như một sự cố kỹ thuật, càng không thể coi đó là chuyện đã rồi. Nếu chủ đầu tư thu được lợi ích từ việc làm sai, còn hậu quả pháp lý, kinh tế và xã hội lại đổ xuống đầu những người mua nhà, thì sự công bằng ở đâu? Không thể để người gây ra sai phạm hưởng lợi, còn người vô tội phải sống trong nỗi lo mất nhà.

Trở lại câu hỏi: Những tòa nhà cao hàng chục tầng, với hàng nghìn căn hộ, đã được xây dựng trong thời gian dài, tại sao không bị phát hiện và ngăn chặn ngay từ đầu? Những công trình lớn như thế không thể mọc lên trong bóng tối. Từ khi đào móng, đổ bê tông, xây từng tầng, hoàn thiện mặt ngoài, lắp đặt hệ thống kỹ thuật đến khi mở bán và bàn giao căn hộ, tất cả đều diễn ra trước mắt cộng đồng và trong phạm vi quản lý của chính quyền sở tại.

Thật khó hiểu, thậm chí khó chấp nhận! Trong những con ngõ sâu ở Hà Nội, một gia đình sửa chiếc ban công nhô ra 20cm, hay đổ một xe cải tiến cát sỏi lấn ra mép lối đi, ngay ngày hôm sau lực lượng trật tự xây dựng phường đã đến kiểm tra, lập biên bản, xử phạt. Người dân sửa chữa nhỏ cũng phải đối mặt với những quy định và chế tài rất cụ thể. Vậy mà những tòa nhà cao hàng chục tầng của ông Thản cứ ầm ầm thi công, hoàn thiện; hoạt động mua bán căn hộ diễn ra công khai trong thời gian dài. Tại sao không bị phát hiện, đình chỉ và xử lý kịp thời?

Sự đối lập ấy khiến người dân không thể không đặt câu hỏi: Phải chăng những sai phạm nhỏ thì bị phát hiện rất nhanh, còn sai phạm lớn lại có thể tồn tại qua nhiều năm? Nếu không có sự buông lỏng, thiếu trách nhiệm hoặc những khuất tất cần được làm rõ, làm sao những công trình đồ sộ như vậy có thể xây dựng đến khi hoàn thành, bán căn hộ và đưa hàng nghìn người vào sinh sống?

Vụ Tập đoàn Mường Thanh: Không thể để người vô tội mất nhà - Ảnh 3.

Với những cư dân chung cư Linh Đàm, mái nhà không chỉ đơn thuần che mưa nắng, đó còn là sự an tâm của tuổi già và tương lai của con trẻ. Ảnh: VNN

Hậu quả hôm nay không chỉ được tính bằng những con số hàng nghìn tỷ đồng,, hậu quả còn được tính bằng nỗi bất an của hàng nghìn gia đình trước nguy cơ mất nhà, bằng những đứa trẻ có thể phải đổi trường, những người già có thể phải rời nơi ở quen thuộc, những khoản vay vẫn chưa trả hết và những mái nhà đang đứng trước một tương lai chưa rõ ràng.

Câu hỏi ấy không phải để phủ nhận trách nhiệm của chủ đầu tư. Trái lại, nó đòi hỏi phải làm rõ thêm một tầng trách nhiệm khác: trách nhiệm công vụ!

Cụ thể: Nếu chủ đầu tư cố tình làm sai, cơ quan nào có nhiệm vụ phát hiện? Ai phải kiểm tra?; Ai có quyền đình chỉ?; Vì sao không ngăn chặn khi công trình mới xây được một vài tầng, mà để đến khi hàng chục tầng đã hoàn thành mới đặt vấn đề xử lý?; Những văn bản kiểm tra, những lần giám sát, những báo cáo về tiến độ công trình đã được thực hiện ra sao?; Ai đã ký, ai đã kiểm tra, ai đã biết và ai phải chịu trách nhiệm?

Việc một số cựu cán bộ địa phương bị truy tố trong vụ án CT6 Kiến Hưng cho thấy trách nhiệm của một số người thực thi công vụ đã được đặt ra trước pháp luật. Nhưng trách nhiệm quản lý không thể chỉ dừng lại ở một vụ án hay một vài cá nhân. Cần nhìn lại, thẩm định và làm rõ toàn bộ quá trình tại từng dự án, từng giai đoạn, từng cơ quan và từng cá nhân có liên quan. Chỉ khi sự thật được làm rõ, trách nhiệm được xác định minh bạch, người dân mới có thể tin rằng những sai phạm tương tự sẽ không còn đất sống.

Điều khiến người dân day dứt không chỉ là việc chủ đầu tư làm sai, mà còn là cảm giác họ đã bị bỏ mặc trong một quá trình mà lẽ ra cơ quan nhà nước sở tại phải giám sát. Nếu sai phạm được phát hiện và ngăn chặn ngay từ đầu, liệu hôm nay có hàng nghìn gia đình phải sống trong cảnh thấp thỏm vì một bi kịch không phải do mình gây ra? Nếu công trình được đình chỉ đúng lúc, nếu việc bán căn hộ không đủ điều kiện bị ngăn chặn kịp thời, liệu có nhiều người đã dồn hết tài sản vào những căn hộ đang vướng mắc pháp lý?

Không thể để một doanh nghiệp vi phạm phải chịu trừng phạt, còn những người có trách nhiệm quản lý, giám sát lại đứng ngoài hậu quả. Không thể chỉ yêu cầu người dân chấp hành pháp luật, trong khi chính những người được giao bảo vệ kỷ cương đô thị lại không làm tròn trách nhiệm của mình, thậm chí khuất tất trong quan hệ quản lý. Kỷ cương quản lý phải bắt đầu từ chính những người được giao thực thi nó.

3

Phá dỡ hay giữ lại: Đừng bắt người vô tội trả giá

Có ý kiến với lập luận rằng: đã xây sai thì phải phá dỡ; nếu không phá dỡ sẽ tạo tiền lệ xấu. Lập luận ấy đúng vì xuất phát từ yêu cầu giữ nghiêm kỷ cương pháp luật. Nếu một công trình vi phạm mà vẫn được giữ lại một cách dễ dãi, nếu chủ đầu tư chỉ cần nộp một khoản tiền là có thể biến sai phạm thành lợi thế, thì những người làm đúng sẽ chịu thiệt thòi, còn người cố tình làm sai có thể lại được hưởng lợi. Một xã hội văn minh, một nền pháp chế khoa họ và nhân văn không thể chấp nhận cách làm ăn mà vi phạm trở thành một lựa chọn có lợi.

Nhưng phá dỡ bằng cách nào, phá dỡ phần nào và ai sẽ phải gánh chịu hậu quả? Đây mới là câu hỏi không thể né tránh.

Nếu một tòa nhà không bảo đảm an toàn chịu lực, không đáp ứng yêu cầu phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ, đe dọa trực tiếp đến tính mạng cư dân, hoặc có những vi phạm nghiêm trọng không thể khắc phục, thì việc buộc phải di dời, tháo dỡ là yêu cầu không thể tránh khỏi. Không ai có quyền đánh đổi tính mạng của hàng nghìn con người để giữ lại một công trình không bảo đảm an toàn.

Nhưng nếu một hạng mục có thể khắc phục, công trình đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn, không xâm phạm những lợi ích công cộng không thể khắc phục và có thể hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thì việc xem xét cho tồn tại có điều kiện cần được đặt ra trên cơ sở khoa học, minh bạch và đúng quy định pháp luật.

Vụ Tập đoàn Mường Thanh: Không thể để người vô tội mất nhà - Ảnh 4.

Một ngày bình thường dưới chân chung cư Linh Đàm. Ảnh: VNN

Không thể chỉ có hai lựa chọn cực đoan: hoặc giữ nguyên tất cả, hoặc phá bỏ tất cả. Một công trình có thể có phần vi phạm cần tháo dỡ, phần có thể cải tạo, phần đáp ứng điều kiện an toàn để tồn tại. Phải rà soát đến từng hạng mục, đánh giá bằng hồ sơ, kết quả kiểm định khoa học và những tiêu chí rõ ràng, chứ không thể quyết định bằng cảm tính. Cũng không thể áp dụng một mệnh lệnh chung cho tất cả các tòa nhà chung cư có sai phạm của Tập đoàn Mường Thanh, bất kể mức độ vi phạm, khả năng khắc phục và cuộc sống của những người dân đang cư trú tại đó.

Điều quan trọng hơn nữa: nếu buộc phải phá dỡ, người dân phải được bảo đảm chỗ ở và phương án bồi thường thực chất trước khi rời căn hộ. Không thể yêu cầu một gia đình bàn giao nhà rồi mới bắt đầu đi tìm nơi tái định cư. Không thể để người già, trẻ nhỏ, người bệnh phải tự xoay xở giữa một thành phố có giá nhà, giá thuê và chi phí sinh hoạt đắt đỏ, chỉ vì sai phạm của chủ đầu tư.

Hãy thử hình dung một gia đình có ba thế hệ đang sống trong căn hộ nhỏ ấy. Người cha, người mẹ đi làm cả ngày; đứa trẻ học gần nhà; ông bà tuổi cao, sức yếu, đã quen từng lối đi, từng người hàng xóm. Nếu phải di dời, họ không chỉ mất một địa chỉ cư trú, họ phải đảo lộn cả cuộc sống đã ổn định, tìm trường cho con, tìm nơi khám chữa bệnh cho người già, tính toán lại những khoản tiền vốn đã eo hẹp. Với những người đã dành cả đời để có được căn nhà, đó không đơn giản là chuyển vài món đồ đạc; đó là một cú đánh vào chính cuộc sống đang ổn định của họ.

Một quyết định xử lý đúng pháp luật không thể chỉ đúng trên giấy. Nó phải nhìn thấy những con người cụ thể sẽ chịu tác động từ quyết định ấy; phải tính đến chỗ ở, sinh kế, học hành, sức khỏe và tương lai của họ. Pháp luật nghiêm minh không đồng nghĩa với sự vô cảm. Xử lý sai phạm không có nghĩa là được phép bỏ quên số phận của những người không gây ra sai phạm.

4

Nghị quyết 96: Lối ra phải đi cùng trách nhiệm

Ngày 28/10/2026, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã thông qua Nghị quyết số 96/2026/NQ-HĐND về cơ chế, chính sách đặc thù và biện pháp khắc phục hậu quả đối với 12 công trình, dự án của Tập đoàn Mường Thanh có vi phạm về pháp luật quản lý đất đai, trật tự xây dựng. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 7/11/2026.

Một trong những điểm đáng chú ý của nghị quyết là đặt quyền lợi của người mua nhà không có lỗi vào vị trí cần được bảo vệ. Người mua, người nhận chuyển nhượng hợp pháp căn hộ mà không có lỗi không phải chịu chi phí, thiệt hại phát sinh từ việc khắc phục hậu quả do chủ đầu tư gây ra.

Các công trình, hạng mục được rà soát và phân loại trên cơ sở những tiêu chí cụ thể. Những phần đáp ứng các yêu cầu về an toàn chịu lực, phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ, chỉ giới đường đỏ và hạ tầng có thể được xem xét cho tồn tại có điều kiện. Những phần không đáp ứng yêu cầu, không thể khắc phục thì phải phá dỡ hoặc chuyển đổi công năng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Đối với người dân phải di dời, nghị quyết đặt ra trách nhiệm bồi thường của chủ đầu tư, bố trí tạm cư và các cơ chế hỗ trợ về nhà ở. Đối với những trường hợp được phép tồn tại có điều kiện, sau khi các nghĩa vụ liên quan được hoàn thành, người mua nhà sẽ được xem xét cấp giấy chứng nhận theo quy định.

Đây là hướng xử lý rất có ý nghĩa, bởi nó không đánh đồng sai phạm của chủ đầu tư với lỗi của người mua nhà. Người bỏ tiền mua căn hộ không thể bị xem như người cùng tham gia tạo ra sai phạm. Họ không có quyền quyết định quy hoạch, không cấp phép xây dựng, không tổ chức thi công và cũng không có quyền giám sát công trình. Bảo vệ người mua nhà ngay tình vì thế không phải là sự nhân nhượng với vi phạm, mà là yêu cầu công bằng xã hội.

Tuy nhiên, nghị quyết chỉ thực sự có giá trị khi từng điều khoản được thực thi trong thực tế đến nơi đến chốn. Người dân đã chờ đợi quá lâu, họ không cần thêm những lời hứa chung chung rằng quyền lợi sẽ được bảo đảm. Họ cần biết căn hộ của mình thuộc diện nào; có phải di dời hay không; nếu được ở lại thì bao giờ có giấy chứng nhận; nếu phải đi thì ai bồi thường, bồi thường bao nhiêu, vào thời điểm nào, bố trí nơi ở mới ra sao.

Một gia đình không thể sống bằng một phương án còn nằm trên giấy. Họ không thể tiếp tục chờ đợi trong mơ hồ, hết năm này qua năm khác. Họ cần một thời hạn cụ thể, một cơ quan chịu trách nhiệm, một đầu mối giải quyết rõ ràng và một cơ chế giám sát minh bạch để biết quyền lợi của mình đang được thực hiện đến đâu.

Với người dân, điều họ cần lúc này không phải là những cuộc họp kéo dài hay những văn bản khó hiểu. Họ cần câu trả lời cụ thể cho căn hộ của chính mình. Họ cần được đối thoại, được thông tin đầy đủ, được tham gia vào quá trình rà soát và được biết căn cứ của từng quyết định. Mỗi ngày chậm trễ là thêm một ngày hàng nghìn gia đình phải sống trong nỗi lo không biết tương lai sẽ ra sao.

5

Không thể để sai phạm thành một "kỹ thuật" kinh doanh

Có một ý kiến rất cần được xem xét thấu đáo: nếu không phá dỡ những công trình có thể khắc phục, không thể để chủ đầu tư sau khi nộp lại toàn bộ lợi ích thu được từ phần xây dựng sai phạm và bị phạt một khoản, rồi coi như cho qua!

Nỗi lo này hoàn toàn có cơ sở. Nếu cứ xây dựng trái phép, thu được lợi nhuận lớn, rồi sau đó chỉ cần nộp một khoản tiền để được giữ lại công trình, thì người ta có thể coi vi phạm như một phép tính kinh doanh, thậm chí như một loại "kỹ thuật" làm ăn. Khi đó, người tuân thủ quy hoạch, chấp hành pháp luật sẽ chịu thiệt; còn người cố tình vi phạm có thể thu lợi trước, xử lý yên hàn sau. Đó là điều không thể chấp nhận. 

Vụ Tập đoàn Mường Thanh: Không thể để người vô tội mất nhà - Ảnh 5.

Cơ chế xử lý phải bảo đảm thu hồi lợi ích bất hợp pháp, buộc chủ đầu tư hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất đai, chịu toàn bộ chi phí khắc phục, bồi thường thiệt hại và thực hiện các chế tài khác theo đúng quy định của pháp luật. Việc khắc phục hậu quả không thể trở thành gánh nặng đổ lên ngân sách nhà nước hay người dân mua nhà không có lỗi.

Theo cơ chế tại Nghị quyết 96, đối với phần công trình được xem xét tồn tại có điều kiện, chủ đầu tư phải nộp lại số lợi bất hợp pháp từ diện tích sàn xây dựng vi phạm theo phương pháp tính được quy định; đồng thời hoàn thành các nghĩa vụ tài chính về đất đai. Ngân sách nhà nước không phải gánh những chi phí thuộc trách nhiệm khắc phục của chủ đầu tư.

Nhưng thu hồi bao nhiêu, tính như thế nào, có thu đủ không, có thực hiện đúng thời hạn không - đó mới là những câu hỏi quyết định hiệu quả của chính sách. Thành phố cần công khai diện tích vi phạm, căn cứ tính toán, khoản tiền phải nộp, tiến độ thực hiện và kết quả thu hồi. Không thể chỉ công bố nghĩa vụ trên giấy, rồi để việc thực hiện kéo dài, thiếu kiểm tra, thiếu giám sát.

Cũng cần xem xét đầy đủ các chế tài theo pháp luật hiện hành. Kiến nghị phạt gấp hai, ba lần khoản lợi bất hợp pháp có thể được đặt ra trong quá trình hoàn thiện chính sách, nhưng không thể tự ý áp dụng một mức phạt khi chưa có căn cứ pháp luật. Điều cần thiết là bảo đảm tổng thể trách nhiệm tài chính, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường dân sự và các biện pháp khắc phục đủ sức răn đe, không để người vi phạm tính toán rằng cứ làm sai rồi nộp tiền là xong.

Nếu chủ đầu tư không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, phải có biện pháp bảo đảm, xử lý và cưỡng chế tài sản theo quy định. Không thể để người dân cầm quyết định bồi thường trong tay nhưng nhiều năm vẫn không nhận được tiền. Không thể để doanh nghiệp trì hoãn trách nhiệm, còn cư dân tiếp tục sống trong cảnh chờ đợi, thấp thỏm, không biết đến bao giờ mới được giải quyết.

Quan trọng hơn, cơ chế đặc thù để giải quyết những tồn tại kéo dài không được trở thành lối đi dọn sẵn cho các dự án mới cố tình làm sai. Đây là nguyên tắc phải được giữ vững. Công trình nào vừa khởi công đã vi phạm thì phải được phát hiện và ngăn chặn ngay. Không thể để tình trạng người dân sửa nhà, làm rơi vãi chút cát sỏi đã bị kiểm tra, lập biên bản, xử phạt, trong khi những tòa nhà cao tầng cứ xây xong, bán hết căn hộ, thu tiền rồi mới đặt chính quyền trước một sự đã rồi.

Nếu không xử lý nghiêm từ đầu, nếu không làm rõ trách nhiệm của người buông lỏng quản lý, thì mọi cơ chế khắc phục sau này dù được thiết kế tốt đến đâu cũng khó ngăn chặn sai phạm tái diễn. Một tiền lệ nguy hiểm sẽ hình thành khi người ta nghĩ rằng có thể xây trước, bán trước, thu lợi trước, còn hậu quả pháp lý sẽ tính sau.

6

Đừng để nỗi bất an kéo dài thêm

Vụ việc liên quan đến Tập đoàn Mường Thanh không chỉ là câu chuyện của một doanh nghiệp hay 12 dự án. Đó còn là câu chuyện về niềm tin của người dân vào thị trường nhà ở, vào giấy phép xây dựng, vào trách nhiệm quản lý của chính quyền và vào khả năng bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản theo quy định của pháp luật.

Như đã nói, một người dân bình thường không thể tự mình kiểm tra các bản vẽ quy hoạch, hồ sơ điều chỉnh, giấy phép xây dựng và văn bản chuyên ngành. Họ đương nhiên có quyền tin rằng những gì được xây dựng công khai, được giao dịch trên thị trường, được bàn giao để vào ở phải nằm trong sự giám sát của cơ quan nhà nước. Khi niềm tin ấy bị tổn thương, không chỉ những người mua nhà trực tiếp chịu thiệt hại, mà niềm tin về quản lý xã hội cũng bị đặt trước một phép thử nghiêm túc.

Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền của Hà Nội cần sớm công bố kết quả rà soát cụ thể đối với từng dự án, từng tòa nhà; công khai tiêu chí phân loại; lấy ý kiến cư dân; tổ chức kiểm định độc lập về an toàn; xác định rõ phần được tồn tại, phần phải khắc phục và phần buộc phải tháo dỡ. Mỗi hộ dân cần được thông báo rõ quyền lợi và phương án xử lý của mình. Không thể để người dân phải sống bằng những lời đồn đoán, những thông tin truyền miệng thất thiệt, khiến nỗi lo vốn đã nặng nề càng thêm nặng nề hơn.

Đối với chủ đầu tư, phải buộc thực hiện đầy đủ trách nhiệm về tài chính, khắc phục hậu quả và bồi thường. Đối với những cán bộ, cơ quan có thiếu sót hoặc vi phạm trong quản lý, phải làm rõ và xử lý tương xứng với tính chất, mức độ trách nhiệm. Đối với người mua nhà ngay tình, phải bảo đảm quyền sở hữu tài sản, chỗ ở và sinh kế. Ba yêu cầu ấy không thể tách rời, càng không thể lấy yêu cầu này để làm nhẹ đi yêu cầu khác.

Sẽ là sai lầm nếu lấy nỗi khổ của người dân để bỏ qua vi phạm. Nhưng cũng sẽ là thiếu nhân văn và thiếu công bằng nếu nhân danh việc xử lý nghiêm sai phạm mà đẩy những người không gây ra sai phạm vào cảnh đảo lộn cuộc sống, thậm chí mất đi tài sản tích cóp cả đời.

Hãy nghĩ đến những đứa trẻ đang lớn lên trong các căn hộ nhỏ ấy. Các cháu không biết thế nào là chỉ giới đường đỏ, mật độ xây dựng hay điều chỉnh quy hoạch. Các cháu chỉ biết căn phòng của mình, chiếc bàn học, sách vở, con đường đến trường, ông bà và cha mẹ. Với các cháu, căn hộ ấy là thế giới thân thuộc, là nơi trở về sau mỗi buổi học, là nơi có vòng tay cha mẹ và những bữa cơm gia đình. Nếu phải rời đi, các cháu có thể chưa hiểu vì sao, nhưng sẽ phải gánh chịu những xáo trộn mà người lớn gây ra.

Hãy nghĩ đến những người già đã bán đất ở quê để lên Hà Nội sống gần con cháu. Có người đã dành dụm cả đời, chỉ mong những năm tháng cuối đời được ở gần gia đình, được nhìn con cháu trưởng thành. Với họ, một lần chuyển nhà không đơn giản là chuyển vài món đồ đạc. Đó có thể là sự đứt gãy của cả một quãng đời đã được sắp đặt, được mong chờ. Đó có thể là cảm giác mất đi chốn nương thân khi tuổi đã cao, sức đã yếu, không còn đủ thời gian và điều kiện để bắt đầu lại.

Không ai yêu cầu pháp luật làm ngơ trước sai phạm. Người dân cũng không muốn sống trong những công trình không bảo đảm an toàn. Điều họ mong mỏi chỉ là sự công bằng: người làm sai phải chịu trách nhiệm; người buông lỏng quản lý phải bị xem xét, xử lý theo quy định; còn người mua nhà bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt không bị biến thành người trả giá thay cho sai phạm của người khác.

Xử lý vụ việc Tập đoàn Mường Thanh vì thế không chỉ là câu chuyện giữ lại hay phá bỏ một vài tòa nhà. Đó là cách pháp luật đô thị đối diện với những sai phạm đã kéo dài; là cách chính quyền thực hiện trách nhiệm quản lý của mình; là cách Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Và hơn hết, đó là phép thử đối với tính nghiêm minh, công bằng và nhân văn của pháp luật. Đừng để sai phạm của người có quyền quyết định, có quyền xây dựng, có quyền quản lý lại trở thành gánh nặng đè lên vai những người dân bình thường.

Nghiêm minh với sai phạm, xử lý đúng người phải chịu trách nhiệm, bảo vệ người mua nhà ngay tình; không hợp thức hóa vi phạm, nhưng cũng không đẩy người dân ra đường. Đó không phải là sự nhân nhượng với cái sai. Đó là đòi hỏi của một nền pháp luật vừa nghiêm minh, vừa công bằng; một nền quản lý đô thị không chỉ biết xử lý những công trình sai phạm, mà còn phải biết bảo vệ những công dân đang sống trong đó.

Sau những con số, những hồ sơ, những quyết định và những phiên tòa, điều không được phép bị lãng quên chính là số phận của hàng nghìn gia đình. Họ đã mua nhà bằng tiền thật, bằng mồ hôi và nước mắt thật. Họ chỉ mong có một mái nhà để sống yên bình.

Vì vậy, đừng để những người vô tội phải mất đi mái nhà của mình vì những sai phạm mà họ không hề gây ra!

icon icon