Sứ mệnh của giáo dục trong giai đoạn đầu đi vào kỷ nguyên số
Sự phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên số cần theo một lối đi riêng, không cóp nhặt nguyên mẫu các mô hình phát triển giáo dục của những quốc gia phát triển và cũng không coi những kinh nghiệm thành công của họ như những tín điều.

Có thể coi kỷ nguyên số là một xu thế phát triển của thế giới hiện đại, được bắt đầu từ thời điểm chuyển đổi công nghệ cơ khí và điện tử Analog sang điện tử kỹ thuật số, đánh dấu sự ra đời của máy tính kỹ thuật số và sự lưu trữ dữ liệu số. Tùy thuộc vào sự phát triển này mà thời điểm đi vào kỷ nguyên số của mỗi quốc gia không trùng hợp với các quốc gia khác.
Hai yếu tố chính của kỷ nguyên số là kinh tế số và xã hội số
Kinh tế số là nền kinh tế, trong đó mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được thực hiện thông qua nền tảng kỹ thuật số, bao gồm thương mại điện tử, tài chính số, kinh tế chia sẻ.
Kinh tế số có 3 thành phần cơ bản:
- Kinh tế số ICT: Công nghiệp công nghệ thông tin và dịch vụ viễn thông.
- Kinh tế số Internet: Các hoạt động của kinh tế đều phải dựa vào Internet.
- Kinh tế số của các ngành: Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong các ngành truyền thống (ngân hàng số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh).
Xã hội số là xã hội mà công nghệ kỹ thuật số tích hợp sâu rộng vào mọi hoạt động đời sống từ kinh tế, văn hóa đến quản trị. Người sử dụng công nghệ, dữ liệu để kết nối, tương tác và làm việc là công dân số.
Chuyển đổi số là động lực để kết nối kinh tế số với xã hội số
Việt Nam đi vào kỷ nguyên số bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (1/2026). Giai đoạn đầu tiên của kỷ nguyên số ở Việt Nam là nhiệm kỳ của Đại hội XIV: 2026-2030.
Sự định vị kỷ nguyên số thể hiện ở 4 điểm cơ bản sau đây:
- Kỷ nguyên số là cơ hội quan trọng để Việt Nam vươn mình, phát triển nhanh và bền vững, phù hợp với yêu cầu thời đại;
- Kỷ nguyên số lấy chuyển đổi số làm động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất.
- Trong kỷ nguyên số sẽ có cách mạng điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới, tranh thủ tối đa các cơ hội từ cách mạng công nghiệp 4.0.
- Kỷ nguyên số giúp Việt Nam vươn lên vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Với những quốc gia đi vào kỷ nguyên số sớm hơn Việt Nam, họ hướng tới năm 2045 để chuyển xã hội số hiện nay của họ sang xã hội thông minh. Điều này, có thể Nhật Bản sẽ đạt mục tiêu đó sớm hơn, vì từ năm 2016, năm mà Hội đồng khoa học, công nghệ và sáng tạo của họ đã thiết kế mô hình xã hội 5.0, hướng tới một xã hội thông minh (Smart Society), sau giai đoạn phát triển xã hội tri thức (Knowledge Society).
Bốn yếu tố kỹ thuật của xã hội thông minh của Nhật Bản là:
- Trí tuệ nhân tạo (AI): Sử dụng AI để phân tích số lượng lớn những dữ liệu, đưa ra những giải pháp tối ưu và giải pháp vượt trội so với trí tuệ con người.- Dữ liệu lớn (Big Data): Thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau qua IoT và cảm biến để phân tích và tạo ra giá trị mới.
- Robot và Tự động hóa: Tối ưu hóa sự tham gia của hệ thống Robot trong mọi hoạt động, giúp con người giải quyết những nhiệm vụ đòi hỏi độ chính xác cao.
- Internet kết nối vạn vật: Kết nối "vạn vật - con người - các hệ thống", tạo thành mạng lưới thông minh và hiệu quả.
Hiện nay, các thành phố như Tokyo, Osaka, Fufuoka đang nỗ lực tích hợp không gian thực và ảo, sử dụng AI và Big Data, Robot và IoT để giải quyết vấn đề già hóa dân số, thiếu hụt lao động và biến đổi khí hậu.
Cùng với Nhật Bản, nhiều quốc gia khác cũng bước vào vòng đua tới đích xã hội thông minh như:
Hàn Quốc: Seoul bắt đầu nổi tiếng về giao thông thông minh, quản lý nước thải, dịch vụ công kỹ thuật số, phát triển hạ tầng số, các công nghệ số mới nổi.
Singapore: Đẩy mạnh triển khai dự án "Smart Nation" (Quốc gia thông minh), phát triển các thành phố thông minh.
Vương quốc Anh: Đang triển khai nhiều biện pháp nhằm xây dựng định danh số thống nhất (One Login) để người dân dễ dàng sử dụng các dịch vụ công và tư, hoàn thiện khung pháp lý về an ninh mạng, thúc đẩy hợp tác công - tư và tạo ra đời sống hạnh phúc cho người cao tuổi.
Hoa Kỳ: Tập trung phát triển đô thị thông minh, đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ, xây dựng nền tảng Mobility as a service (MaaS) để dân chúng thuận lợi thanh toán cho các phương tiện giao thông qua một ứng dụng duy nhất.
Đức: Sau chương trình Industry 4.0, Đức đẩy mạnh việc ứng dụng AI để dự báo tai nạn lao động, phân bố thanh tra an toàn lao động hợp lý.
Trung Quốc: Tăng cường ứng dụng Big Data trong quản lý dân cư và phúc lợi xã hội, đầu tư quy mô lớn cho chương trình phát triển các thành phố thông minh.
Ấn Độ: Triển khai Đề án "Ấn Độ số" (Digital India), số hóa 14 thành phố và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ di động, Chính phủ số.
Estonia: Xây dựng thành công mô hình e-Estonia, trở thành quốc gia điện tử phát triển nhất thế giới.
Những dữ liệu trên đây cho thấy Việt Nam đi vào Kỷ nguyên số chậm hơn nhiều quốc gia. Song, con đường đi vào kỷ nguyên số của Việt Nam sẽ có thời gian rút ngắn và ở đoạn cuối của kỷ nguyên số vẫn có mục tiêu một xã hội Việt Nam thông minh, một dân tộc Việt Nam thông thái.
Sứ mệnh của Giáo dục Việt Nam trong giai đoạn đầu đi vào kỷ nguyên số
Một là: Giáo dục Việt Nam hướng tới mục tiêu phát huy tận lực những năng lực cốt lõi của từng con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên số, bao gồm những phẩm chất nhân cách và đức độ công dân, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh giai đoạn 2026-2030.
Hai là: Đào tạo nhân lực tại chỗ và nhân lực tương lai thành một lực lượng lao động chất lượng cao, đủ sức tạo nên những đột phá trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và phát triển giáo dục và đào tạo.
Ba là: Tạo nên một cuộc cách mạng thay đổi triệt để mô hình giáo dục truyền thống, xây dựng mô hình giáo dục mở (mô hình xã hội học tập) mang những nét đặc trưng của Văn hóa Việt Nam, tiếp cận và hội nhập với xu thế vĩ mô của sự phát triển giáo dục của thế giới hiện đại.
Sự phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên số cần theo một lối đi riêng, không cóp nhặt nguyên mẫu các mô hình phát triển giáo dục của những quốc gia phát triển và cũng không coi những kinh nghiệm thành công của họ như những tín điều. Chỉ bằng lối đi riêng mới đi nhanh và mới hi vọng có được vị trí của top đầu về phát triển giáo dục trong khu vực và trên thế giới.

Công dân số và công dân toàn cầu là mục tiêu đào tạo của trường phổ thông và trường đại học. Ảnh: Vietnam+
Giáo dục Việt Nam cần làm những việc cụ thể:
1. Đảng và Nhà nước khẳng định đã đến lúc chúng ta phải phổ cập giáo dục trung học.
Phổ cập giáo dục trung học đồng thời có nghĩa rằng, hệ thống giáo dục đại học cần mang tính mở, phát triển các khóa học chính quy và không chính quy sao cho, sau khi học xong Chương trình phổ cập giáo dục trung học, tất cả học sinh trung học đều có quyền theo học đại học, hoặc đại học không chính quy, hoặc đại học không chính quy, nhờ đó tất cả thanh niên nam nữ đều với tay tới học vấn đại học (hoặc định hướng văn bằng, hoặc chỉ cần tri thức) để lao động trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mà việc làm ở đây không chấp nhận học vấn Trung học.
Trong hệ thống giáo dục trung học, bỏ ngay hệ thống trường trung cấp nghề, mà chỉ có hệ thống trung học đào tạo với 2 chương trình: Chương trình dành cho những học sinh nổi trội về năng lực kỹ thuật - công nghệ để đi vào hệ đại học công nghệ như lĩnh vực giao thông, xây dựng, công nghệ thông tin, logistic, cơ khí... và chương trình dành cho học sinh trung học bộc lộ năng khiếu và hứng thú lĩnh vực sư phạm, y tế, lịch sử, địa lý, chính trị, xã hội học, tâm lý học, triết học...
Không nên chủ trương phân luồng học sinh kiểu cũ. Ở đây, trong hệ thống trung học, chỉ có giáo dục hướng nghiệp và giáo dục khởi nghiệp theo hướng đại học kỹ thuật - công nghệ và đại học xã hội - nhân văn.
Với những học sinh học xong trung học phổ thông (K-12) mà không có ý định học đại học vì lý do nào đó, cần có các trung tâm đào tạo nghề (chủ yếu là các trung tâm của các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế hoặc các trung tâm của tư nhân) để đào tạo các loại thợ đáp ứng nhu cầu hàng ngày ở các cộng đồng: từ thợ sửa TV, máy lạnh, xe máy, điện dân dụng... đến thợ cắt tóc, làm nail, may mặc, phục vụ cửa hàng ăn uống, làm bánh, làm các loại thực phẩm...
Việc đào tạo này giao cho chính quyền cấp tỉnh/thành phố chăm lo. Căn cứ vào nhu cầu dịch vụ của từng cộng đồng mà lãnh đạo địa phương tự quyết định.
Đối với giáo dục người lớn, ngành giáo dục cần nhanh chóng làm cho tất cả những lao động đạt trình độ trung học để họ có điều kiện tiếp cận các kiến thức đại học thông qua các khóa học chính quy hoặc không chính quy dưới phương thức trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp - trực tuyến.
2. Với hệ thống giáo dục phổ thông, trong giai đoạn 2026-2030, cần tập trung vào những vấn đề lớn sau:
Xây dựng các trường phổ thông các cấp theo mô hình trường học hạnh phúc, trường học xanh, trường học điện tử như Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng yêu cầu. Về thực chất, dù dưới hình thức nào thì các mô hình trường học này đều được xây dựng trên nền tảng kết nối các công nghệ số trong toàn bộ hoạt động của nhà trường.
Với miền núi, miền hải đảo và vùng dân tộc thiểu số, nhà nước cần có kế hoạch đầu tư để các mô hình trường học nói trên nhanh chóng phủ kín các địa bàn hiện đang khó khăn về kinh tế và về hạ tầng giao thông liên xã, liên tỉnh. Con em các dân tộc thiểu số, con em người lao động vùng núi, vùng biển vốn đã nhiều năm thiếu những cơ hội và điều kiện học tập hiện đại. Làm tốt điều này là hướng đầu tư tạo nguồn lao động chất lượng cao tương lai, tạo động lực phát triển chiến lược kinh tế - xã hội cho những vùng mà tiềm năng phong phú tại đó chưa có cơ hội bung ra.
Do yêu cầu phổ cập giáo dục trung học, Đảng bộ và chính quyền các tỉnh, các thành phố trực thuộc trung ương, các đặc khu phải chịu trách nhiệm bảo đảm cho con em của địa phương có đủ trường lớp trung học phổ thông. Với những trường Trung học phổ thông (tư thục) không đủ điều kiện bảo đảm chất lượng phổ thông, phải cương quyết cho dừng tuyển sinh để tránh việc phổ cập giáo dục không đạt yêu cầu.
Cùng với việc nhà nước nâng cấp cho các trường phổ thông theo hướng chuyển đổi số, khuyến khích các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn sản xuất mở các trường phổ thông liên cấp (K-12), để góp phần thực hiện phổ cập giáo dục phổ thông trung học. Đây là hướng xã hội hóa giáo dục cần thiết. Nên loại bỏ các trường tư thiếu thầy giỏi, thiếu cơ sở vật chất, hoạt động vì lợi nhuận hơn là vì chất lượng đào tạo.
3. Đi vào kỷ nguyên số, cần tập trung phát triển hệ thống giáo dục đại học theo quan điểm:
- Trường đại học là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với nền kinh tế thực, không phải là nơi luyện thi; cấp bằng nhưng không dùng được trong các doanh nghiệp.
- Trường đại học có trách nhiệm chính đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động thay đổi liên tục do nhiều nghề cũ bị thay thế bằng nhiều nghề mới, do công nghệ sản xuất thay đổi nhanh chóng. Các lĩnh vực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, kinh tế số... không có cơ sở đào tạo nào thay thế trường đại học.
- Trường đại học là nơi thúc đẩy nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, phát triển và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.
- Trường đại học trở thành trung tâm ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, mô phỏng ảo, học liệu số, tạo nên những môi trường học tập đa chiều, cá nhân hóa trong học tập, khuyến khích người học tự chủ học hỏi và sáng tạo.
- Trường đại học là trung tâm của giáo dục khởi nghiệp, lập nghiệp, giúp sinh viên tự kiến tạo tri thức, hướng sinh viên phát triển theo tinh thần khai phóng, phát huy tận lực tiềm lực trong mỗi sinh viên.
- Trường đại học phải là một đơn vị tự chủ trong hợp tác quốc tế, liên kết với các trường đại học trong nước và ngoài nước, gắn kết với các tập đoàn kinh tế.
Kỷ nguyên số cần các trường đại học tạo cho quốc gia có vị thế cao trong mối quan hệ quốc tế, tạo cho nền kinh tế quốc gia có năng lực cạnh tranh hiệu quả. Mỗi trường đại học là một pháo đài bảo vệ đất nước trong tiến trình hiện đại hóa mà kỷ nguyên số yêu cầu.
4. Với giáo dục người lớn (Adult Education), đã đến lúc phải làm đồng thời những việc sau:
- Ngành giáo dục cần có chương trình triển khai chủ trương Bình dân học vụ số và có kế hoạch tổ chức xóa mù số cho mọi người lớn trên mọi địa bàn dân cư.
- Phát triển các khóa học mở tại các trường đại học dành cho người lớn, đặc biệt là cho cán bộ, công chức, viên chức.
- Xây dựng mô hình công dân số với những năng lực cốt lõi mà kỷ nguyên số yêu cầu. Mô hình công dân số là cơ sở để đào tạo những công dân toàn cầu. Ngành giáo dục có trách nhiệm chính với công việc này, bởi công dân số và công dân toàn cầu là mục tiêu đào tạo của trường phổ thông và trường đại học.
5. Năm 2025 đã khép lại khi mô hình xã/phường học tập đã được định hình trên nền tảng 5 mô hình học tập đã được triển khai trên mọi địa bàn dân cư. Tại cấp hành chính xã, một xã được công nhận đạt danh hiệu xã học tập khi 5 mô hình học tập đạt tới một tỷ lệ do nhà nước quy định. 5 mô hình đó là: Gia đình học tập, Dòng họ học tập, Cộng đồng học tập, Đơn vị học tập và Công dân học tập. Trong 5 mô hình này, Công dân học tập là yếu tố chất lượng của 4 mô hình còn lại. 4 mô hình còn lại là những môi trường nuôi dưỡng mô hình Công dân học tập phát triển.
Khi xã hội học tập trên địa bàn hành chính cấp xã đã trở thành mô hình chính thức và phổ biến khắp trong cả nước thì công việc tiếp theo là xây dựng mô hình xã hội học tập trên địa bàn tỉnh/thành phố.
Việc xây dựng tỉnh học tập, thành phố học tập có 2 hướng:
Hướng thứ nhất: Xác định tỷ lệ số xã/phường học tập tới mức độ nào đó thì công nhận tỉnh học tập, thành phố học tập. Theo hướng này, năm 2026 chưa triển khai vì Chính phủ chưa có Quyết định về mô hình học tập cấp hành chính tỉnh.
Hướng thứ hai: Theo Kết luận số 49-KL/TW (10/5/2019) của Ban Bí thư, cần tham gia mạng lưới Thành phố học tập toàn cầu (Global Learning City) do UNESCO điều hành.
Theo hướng này, tính đến tháng 12/2025, Việt Nam đã có 6 thành phố được UNESCO công nhận là thành phố học tập toàn cầu. Đó là: Vinh, Cao Lãnh, Sa Đéc, Sơn La, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Hiện đã có hơn 10 thành phố khác ở Việt Nam đã đăng ký với UNESCO để được thẩm định đủ điều kiện trở thành thành viên của Mạng lưới Thành phố học tập toàn cầu. Chỉ cần phát triển thành phố theo Bộ tiêu chí do UNESCO ban hành. Khi đã trở thành thành viên của mạng lưới thì cũng có nghĩa chúng ta đã hội nhập sâu vào trào lưu xây dựng xã hội học tập trên toàn thế giới.


Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.
Đăng nhập để tham gia bình luận
Đăng nhập với
Facebook Google