Sáp nhập trường học và áp lực "siêu trường"
Chủ trương sáp nhập giúp thu gọn hơn 50% số trường học trên cả nước, nhưng cũng tạo ra những "siêu trường" hàng trăm lớp. Thực tiễn ngôi trường quy mô 10.500 học sinh đã bộc lộ rõ giới hạn của việc tinh gọn cơ học. Đòi hỏi cấp thiết hiện nay là đổi mới tư duy quản trị và ứng dụng dữ liệu để cởi trói chính sách.

Học sinh Trường Trung học Cơ sở Giảng Võ (Hà Nội) trong ngày khai giảng - một trong những cơ sở có quy mô học sinh đông sau sáp nhập.
Khi mô hình "siêu trường" vượt ngưỡng quản trị
Tính đến tháng 10/2026, 34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành việc sắp xếp, thu gọn quy mô trường học. Việc giảm hơn 50% số cơ sở giáo dục (từ 37.530 xuống 18.555 trường) phản ánh nỗ lực lớn trong tinh gọn bộ máy và tối ưu hóa nguồn lực công.
Tuy nhiên, đằng sau thành quả tinh gọn là sự xuất hiện của những trường học có quy mô kỷ lục. Cả nước hiện có 114 trường học vượt mốc 100 lớp, tập trung tại 17 địa phương.
Cần Thơ dẫn đầu với 23 trường, Khánh Hòa xếp thứ hai với 21 trường - riêng hai địa phương này đã chiếm tới 38,6% tổng số "siêu trường". Các tỉnh, thành như Đồng Tháp, Đà Nẵng, Hà Nội, Đồng Nai hay Bắc Ninh cũng ghi nhận số lượng trường quy mô lớn gia tăng đáng kể.
Điển hình là Trường Tiểu học Nha Trang (Khánh Hòa) - đơn vị có quy mô lớn nhất cả nước với 287 lớp, hơn 10.500 học sinh, 13 cơ sở và gần 580 cán bộ, giáo viên.
Theo quy định hiện hành, quy mô lớp học tối đa của trường mầm non và phổ thông dao động từ 30 đến 50 lớp (riêng trường liên cấp tối đa từ 50 đến 75 lớp). Việc xuất hiện các trường trên 100 lớp, thậm chí gần 300 lớp, đã hoàn toàn phá vỡ các khung quy chuẩn quản lý truyền thống.
Thực tế tại các địa phương phản ánh hàng loạt bất cập trong vận hành mô hình trường học sau sáp nhập. Trước hết là áp lực từ việc trách nhiệm pháp lý tập trung nhưng địa bàn vận hành lại quá phân tán.
Một hiệu trưởng phải gánh vác toàn bộ trách nhiệm pháp nhân về nhân sự, tài sản cũng như an toàn trường học, trong khi các điểm trường lại rải rác trên diện rộng.
Tại một số địa phương miền núi, một cơ sở phải gánh tới 21 phân hiệu với khoảng cách từ trung tâm đến điểm lẻ lên tới 120 km.
Ghi nhận tại những "siêu trường", bộ máy chuyên môn và nghiệp vụ đang đối mặt với nhiều áp lực lớn.
Đơn cử tại Trường Tiểu học Nha Trang, quy mô lớn khiến một tổ chuyên môn lên tới 64-70 giáo viên. Bên cạnh đó, toàn bộ công tác tài chính, ngân sách cho hơn 10.000 học sinh cùng hàng trăm cán bộ tại đây hiện do 2 nhân sự kế toán đảm nhiệm.
Đáng chú ý, đội ngũ kiêm nhiệm vẫn thiếu cơ chế, chính sách hỗ trợ. Nhiều giáo viên được phân công làm nhóm trưởng chuyên môn hay phụ trách công tác Đội tại các phân hiệu lẻ phải đảm nhận thêm nhiều trọng trách, nhưng hiện vẫn chưa có quy định cụ thể về việc giảm định mức tiết dạy cũng như chế độ phụ cấp tương xứng.
Chỉ đạo của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu về việc rà soát 114 trường trên 100 lớp ngay trong tháng 10/2026 là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn.
Thực tế cho thấy, sáp nhập không thể dừng ở phép cộng cơ học. Khi quy mô vượt ngưỡng quản trị và thiếu cơ chế hỗ trợ đội ngũ, chất lượng dạy học cũng như an toàn trường học sẽ đứng trước nhiều thách thức.
Đổi mới quản trị sau sáp nhập trường học bằng dữ liệu số
Trước thách thức quản trị hiện nay, việc duy trì tư duy quản lý truyền thống - vốn dựa trên sự có mặt trực tiếp hay vận hành thủ công - không còn phù hợp.
Như phân tích của Thứ trưởng Thường trực Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Ngọc Thưởng, chìa khóa vận hành các cơ sở quy mô lớn nằm ở việc thay đổi tư duy quản trị, chuyển mạnh sang phân quyền và ứng dụng dữ liệu.
Thực tế cho thấy, sự chủ động từ cơ sở hoàn toàn có thể tạo ra những điểm tựa vận hành ban đầu.
Ví dụ như tại Trường Tiểu học Nha Trang, nhà trường đã chủ động phân công cán bộ quản lý phụ trách từng phân hiệu và từng lĩnh vực, thống nhất thời khóa biểu, quy chế làm việc và kế hoạch giáo dục trên toàn hệ thống. Nhờ đó, hoạt động dạy học, bán trú tại 13 địa điểm bước đầu giữ được sự ổn định.
Tuy nhiên, về lâu dài, để mô hình này vận hành bền vững trên cả nước, việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung và chuẩn hóa quy trình quản trị số cần được triển khai đồng bộ.
Trước hết là số hóa đồng bộ quy trình vận hành. Các khâu quản lý từ thời khóa biểu, hoạt động bán trú đến đánh giá học sinh và kiểm tra chuyên môn cần được kết nối trên hệ thống trực tuyến.
Giải pháp này giúp ban giám hiệu theo dõi tình hình thực tế tại tất cả điểm trường theo thời gian thực mà không phụ thuộc vào việc di chuyển cơ học.
Thứ hai là chuyển từ kiểm tra trực tiếp sang quản trị bằng dữ liệu. Thay vì gia tăng các đợt kiểm tra đột xuất hay họp hành, công tác giám sát được thực hiện qua các chỉ số đo lường cụ thể, minh bạch thông tin và phân quyền rõ ràng theo nguyên tắc: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ kết quả.
Sau cùng là giảm tải áp lực hành chính cho cơ sở. Việc đẩy mạnh quản trị số cho phép tối ưu hóa quy trình, cắt giảm các cuộc họp và phong trào không cần thiết, qua đó giải phóng nguồn lực để đội ngũ nhà giáo tập trung nâng cao chất lượng chuyên môn.
Linh hoạt vị trí việc làm, hoàn thiện chính sách đặc thù
Song song với giải pháp công nghệ, việc xây dựng cơ chế chính sách đặc thù cho mô hình trường quy mô lớn là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn.
Điều này hoàn toàn tương thích với chỉ đạo của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu về việc giao các bộ, ngành và địa phương hoàn thiện quy định về vị trí việc làm, số lượng người làm việc và số lượng hiệu phó theo hướng hiệu quả, không cào bằng.
Theo đó, khung chính sách mới cần tập trung tháo gỡ hai điểm nghẽn lớn. Một là xóa bỏ tư duy cào bằng trong giao định mức nhân sự.
Định mức cán bộ quản lý, nhân viên chuyên môn (kế toán, y tế) và đội ngũ giáo viên kiêm nhiệm cần được xác định linh hoạt dựa trên quy mô học sinh thực tế và số lượng điểm trường, thay vì áp trần cứng nhắc theo khung của một cơ sở giáo dục tiêu chuẩn.
Hai là chuẩn hóa chế độ hỗ trợ cho đội ngũ phụ trách các phân hiệu. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về việc giảm định mức tiết dạy.
Đồng thời, cần bố trí phụ cấp trách nhiệm tương xứng cho giáo viên làm tổ trưởng chuyên môn hoặc phụ trách công tác Đội tại các điểm trường lẻ.
Tinh gọn bộ máy là chủ trương đúng đắn nhằm tối ưu hóa nguồn lực đầu tư cho giáo dục. Mặc dù vậy, sáp nhập trường lớp mới chỉ là bước khởi đầu.
Để các "siêu trường" vận hành ổn định, việc chuyển đổi từ tư duy quản lý thủ công sang quản trị hiện đại bằng dữ liệu, kết hợp với cơ chế chính sách linh hoạt là điều kiện tiên quyết.
Tháo gỡ rào cản cơ chế chính là giải pháp căn cơ để bảo đảm chất lượng giáo dục và quyền lợi của người học trong giai đoạn mới.

Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.
Đăng nhập để tham gia bình luận
Đăng nhập với
Facebook Google