I. KHOA HỌC GIÁO DỤC NGƯỜI LỚN
Khoa học giáo dục người lớn (Andragogy) còn được hiểu là một phương pháp, một nghệ thuật trong giáo dục người trưởng thành, giúp họ có những kiến thức, kỹ năng và thái độ không chỉ trong việc học tập, mà còn trong đời sống, nhất là lao động sản xuất.
Khoa học giáo dục người lớn có đối tượng, mục đích, phương pháp tiếp cận, phương pháp nghiên cứu cụ thể cũng như về triết lý giáo dục... đều khác biệt hoàn toàn so với giáo dục trẻ em.
Khái niệm Andragogy được phổ biến rộng rãi bởi nhà giáo dục người Mỹ Malcolm Knowles vào cuối những năm của thập niên 1961-1969. Malcolm Knowles (1913-1997) nổi tiếng với việc áp dụng lý thuyết giáo dục người trưởng thành trong lĩnh vực học tập không chính quy và phi chính quy. Ông được coi là "Cha đẻ", người tiên phong trong thúc đẩy và định hình mô hình học tập tự định hướng, thay đổi tư duy giáo dục từ áp đặt một chiều sang lấy người học làm trung tâm.
Trong sách giáo khoa về giáo dục có 3 khái niệm cơ bản: Pedagogy: Khoa học giáo dục thế hệ trẻ (khoa học sư phạm); Andragogy: Khoa học giáo dục người lớn; Heutagogy: Khoa học về việc tự học hoàn toàn do người học chủ động thiết kế và định hướng.
Bảng so sánh dưới đây cụ thể hoá sự khác biệt giữa Andragogy, Pedagogy và Heutagogy:
So sánh giáo dục người lớn, giáo dục trẻ em và giáo dục thự học có thể thấy bản chất của: Andragogy: Giúp người lớn học; Pedagogy: Dạy học cho thế hệ trẻ; Heutagogy: Giúp người học trưởng thành tự làm chủ việc học. Đồ hoạ: TTH
Điều đáng tiếc hiện nay ở Việt Nam, trong các sách giáo khoa sư phạm, chỉ có khái niệm Pedagogy, vắng bóng hoàn toàn khái niệm Andragogy và Heutagogy.
Trong khi đó, Hội Khuyến học Việt Nam đang triển khai các hoạt động khuyến học, khuyến tài - những mô hình học tập do Hội thiết kế rất phù hợp với những nguyên tắc của Andragogy, nhưng Hội lại chưa dựng được mô hình lý thuyết (học thuật) về Khuyến học như một hành trình triển khai Andragogy.
Nói cách khác, tuy có một số chuyên gia đã gợi ý nên coi Khuyến học là một loại hình đặc biệt của khoa học sư phạm người lớn, nhưng hầu hết người làm khuyến học chỉ coi khuyến học như một cuộc vận động toàn xã hội học tập suốt đời với tư cách là phong trào thi đua có quy mô lớn trong xã hội.
Đi vào kỷ nguyên số với sự thúc đẩy của trí tuệ nhân tạo, đây là lúc chúng ta cần Nhà nước có thể chế đột phá phát triển khuyến học tương tự như một đột phá phát triển khoa học và công nghệ.
6 nguyên tắc cốt lõi của giáo dục người lớn. Đồ hoạ: TTH
II. NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA ANDRAGOGY
Trong lý thuyết của Andragogy, Malcolm Knowles đã nêu lên 6 nguyên tắc cốt lõi định hình cách người trưởng thành tiếp thu kiến thức:
1: Tính tự chủ (Self-direction): Người lớn thường có ý muốn tự chủ, tự quản lý và quyết định lộ trình học của chính mình, thay vì bị áp đặt.
2: Vai trò của kinh nghiệm (Prior experience): Người lớn nào cũng có vốn sống riêng, kinh nghiệm sống phong phú. Vốn sống và kinh nghiệm sống của họ là nền tảng để họ dễ tiếp thu cái mới.
3: Sự sẵn sàng học (Readiness to learn): Người lớn chỉ sẵn sàng học khi kiến thức mới gắn liền với nhu cầu thực tế trong công việc hoặc đời sống.
4: Tính thực tiễn và định hướng giải quyết vấn đề (Orientation to learning): Người lớn thường ưu tiên quan tâm đến việc áp dụng kiến thức kịp thời vào những vấn đề đang gặp phải hơn là học lý thuyết hàn lâm dài dòng.
5: Động lực học tập (Motivation): Động lực học của người lớn chủ yếu đến từ lòng tự trọng, sự hài lòng trong công việc, sự phát triển bản thân thay vì điểm số hay phần thưởng bên ngoài.
6: Nhu cầu biết lý do học (Need to know): Người lớn cần hiểu rõ lý do tại sao họ lại phải học một nội dung cụ thể trước khi họ đầu tư vào thời gian học tập.
Cập nhật và xử lý các thông tin về triển khai các Quyết định 387/QĐ-TTg và 677/QĐ-TTg, đối chiếu với từng công việc của Hội Khuyến học Việt Nam chỉ đạo các địa phương xây dựng 5 mô hình học tập với 6 nguyên tắc giáo dục của Andragogy, ta có kết luận quan trọng:
📧
5 mô hình Công dân học tập, Gia đình học tập, Dòng họ học tập, Cộng đồng học tập và Đơn vị học tập do Hội Khuyến học Việt Nam triển khai trên mọi địa bàn dân cư cấp xã đã bám sát một cách thực chất và đồng bộ với 6 nguyên tắc của thuyết giáo dục người lớn (Andragogy) do Malcolm Knowles đề xuất.Chính Google đã cung cấp toàn bộ sự đánh giá về cách làm của Hội phù hợp với 6 nguyên tắc Andragogy. Sự đối chiếu, đánh giá dẫn đến sự khẳng định rằng, bản thân các hoạt động khuyến học vốn đã là sự triển khai linh hoạt các nguyên tắc của Andragogy: Khuyến học là một lĩnh vực của khoa học giáo dục người lớn.
Khuyến học là một lĩnh vực của khoa học giáo dục người lớn. Nguồn dữ liệu tổng hợp từ xây dựng 5 mô hình học tập do Hội Khuyến học Việt Nam chủ trì triển khai.
III. HỘI KHUYẾN HỌC ĐANG THỰC HIỆN NHỮNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC GIÁO DỤC NGƯỜI LỚN TRONG HÀNH TRÌNH XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP
1. Những nhà khoa học giáo dục tham gia vào việc tổ chức và phát triển Hội Khuyến học Việt Nam ngay từ những ngày đầu thành lập Hội đã đặt vấn đề phải xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam phù hợp với đặc điểm kinh tế, văn hoá, lịch sử và truyền thống học tập của Việt Nam.
Ngày 1/8/2007, Hội đã triển khai Đề tài độc lập cấp Nhà nước về "Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam" theo Quyết định 616/QĐ-BKHCN (19/4/2007) của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Đề tài đã được nghiệm thu và được phép triển khai mô hình xã hội học tập trên địa bàn toàn quốc. Đến nay, mô hình xã hội học tập đó vẫn được triển khai và việc chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đã nâng cấp mô hình này. Việc học tập của người lớn đã là một phong trào rộng lớn, lan tỏa đến mọi cộng đồng dân cư.
2. Những mô hình học tập trên địa bàn hành chính cấp xã theo các Quyết định 281/QĐ-TTg, 387/QĐ-TTg và 677/QĐ-TTg đều là sản phẩm khoa học được thực hiện và nghiệm thu qua các đợt thử nghiệm (Experiment), do Trung ương Hội chỉ đạo về mặt học thuật đối với Hội Khuyến học của nhiều địa phương.
Những mô hình học tập này có những chỉ số đo cụ thể, bảo đảm độ chính xác, độ tin cậy, phát huy được những tác dụng tích cực trong các lĩnh vực sản xuất và phát triển văn hoá ở địa phương.
Từ việc nghiên cứu các bộ tiêu chí đánh giá, công nhận các mô hình học tập tới những đề án xây dựng mô hình "Khuyến học số", "Khuyến học xanh" đều khởi đầu từ khâu nghiên cứu khoa học, chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng và phát triển.
Hội đã rất quan tâm triển khai các đề án nghiên cứu khoa học theo cách tiếp cận xã hội học và giáo dục học (Sociological/Educational Approach) và phương pháp luận khoa học (Scientific Methodology), dựa trên những nền tảng sau
- Nền tảng chính trị: Các văn kiện của Đảng và Nhà nước.
- Nền tảng kinh tế: Kinh tế tri thức và Kinh tế số.
- Nền tảng khoa học: Lý thuyết về giáo dục người lớn.
- Nền tảng giáo dục: Xây dựng và phát triển nền giáo dục mở.
- Nền tảng tư tưởng: Tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3. Sự gắn kết công tác nghiên cứu triển khai của Hội với một số trường đại học, Học viện Viettel, Khan Academy và UNESCO đã giúp cho việc xây dựng các mô hình học tập phát triển nhanh, bám sát các xu thế giáo dục của thế giới hiện đại, đồng thời vẫn bảo đảm được cốt lõi văn hoá bản địa và truyền thống giáo dục lâu đời của dân tộc.
Tuy nhiên, trong việc triển khai các đề án khuyến học với tinh thần khoa học, Hội cũng bộc lộ điểm yếu:
- Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam chưa có cơ quan nghiên cứu khoa học nên những tư vấn về khoa học do lãnh đạo Hội chưa nhiều, sự phản biện khoa học thiếu thường xuyên.
- Nhiều cán bộ cốt cán của các cấp Hội là cán bộ quản lý xã hội hoặc là những cán bộ chính trị, thiếu kỹ năng chỉ đạo học thuật đối với phong trào khuyến học.
Vì lý do đó, tại không ít địa phương, khuyến học thường được triển khai như những cuộc vận động xã hội đơn thuần.
Hiện nay, Hội khuyến học đang từng bước đi vào kỷ nguyên số và bước đầu tiếp cận với Trí tuệ nhân tạo. Một câu hỏi nghiêm túc được đặt ra trước Hội: "Trước bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển trí tuệ nhân tạo, công tác khuyến học gắn với Andragogy, cần triển khai những dự án khoa học và công nghệ trọng tâm nào?"
Những người làm khuyến học cần suy nghĩ để có thể lựa chọn đề tài theo gợi ý:
1. Hệ thống trợ lý ảo AI cá nhân hóa việc học tập của người lớn (AI Tutor/Mentor for Andragogy). Xây dựng nền tảng AI phân tích năng lực, nhu cầu và thời gian biểu của từng người dân, để gợi ý lộ trình tự học, tài liệu và kỹ năng số cốt lõi nhất với công việc thực tế.
2. Kho tri thức mở và học liệu số thông minh cộng đồng (Community Smart Open Knowledge Repository and Digital Learning Materials). Phát triển các khóa học liệu, sách điện tử, video ngắn tương tác tích hợp tìm kiếm bằng giọng nói, giúp người lao động/người cao tuổi dễ dàng tiếp cận.
3. Nghiên cứu đánh giá năng lực số và chỉ số hạnh phúc (Digital Literacy and Happiness Index). Đo lường tác động của việc học tập số đến mức độ tự tin, khả năng thích ứng công nghệ và nâng cao chất lượng sống, chỉ số hạnh phúc của người dân.
4. Mô hình "Bình dân học vụ số" dựa trên nền tảng kết nối cộng đồng. Xây dựng các không gian học tập số tại cấp phường/xã, kết hợp AI hỗ trợ trực tiếp để phổ cập kỹ năng số, an toàn mạng, sử dụng dịch vụ công trực tuyến cho mọi người.
5. Đánh giá, nâng cao năng lực số và thu hẹp khoảng cách AI với người cao tuổi. Nghiên cứu phương pháp tiếp cận sư phạm người lớn để phổ cập kỹ năng sử dụng AI, giúp người cao tuổi không bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên số.
6. Phổ cập kỹ năng sử dụng các ứng dụng AI trên điện thoại thông minh cho người lao động. Tổ chức các buổi huấn luyện, hướng dẫn cho người dân biết cài đặt các ứng dụng AI, biết đặt câu hỏi để AI cung cấp các tri thức cần thiết cho công việc, thực hiện học theo phương thức cá nhân hóa, mọi lúc mọi nơi, biến điện thoại thông minh thành "Trường học bỏ túi" (Pocket School).
7. Tái cấu trúc (Reconstruct) các tổ chức khuyến học và định hình lại (Reshape) các mô hình học tập cho phù hợp với yêu cầu đột phá phát triển xã hội học tập trong kỷ nguyên số. Thiết kế mô hình xã hội học tập như một hệ sinh thái học tập suốt đời chuyển đổi số với sự tăng cường tác động của Trí tuệ nhân tạo làm nền tảng để định hình lại các tổ chức Hội khuyến học, xây dựng lại tiêu chí mới cho các mô hình học tập.
Trên đây chỉ là một gợi ý nhỏ về các vấn đề cần có sự nghiên cứu thông qua các đề tài, đề án, chương trình do Chính phủ quyết định.
IV. NHỮNG KIẾN THỨC NỀN TẢNG CỦA NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHUYẾN HỌC THEO ĐÚNG NGUYÊN TẮC CỦA KHOA HỌC GIÁO DỤC NGƯỜI LỚN
Nhiều người hoạt động trong lĩnh vực khuyến học truyền thống thường thúc đẩy phong trào học tập suốt đời trong nhân dân theo phương thức "Dân vận". Điều đó hoàn toàn đúng, bởi để người dân tham gia học tập thường xuyên với tinh thần tự nguyện, cần giúp họ hiểu được chủ trương xây dựng xã hội học tập của Đảng, những chương trình khuyến học của Chính phủ qua từng giai đoạn phát triển xã hội học tập.
Trước bối cảnh công nghệ số và trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh mẽ và tác động trực tiếp đến giáo dục, việc chuyển đổi phương thức tiến hành công tác khuyến học truyền thống sang phương thức tổ chức khuyến học với tư cách là một chuyên ngành của khoa học giáo dục người lớn (Andragogy) là một tất yếu trong xã hội số với việc sử dụng công nghệ AI một cách toàn diện và triệt để.
Vì lý do đó, việc "chuyên nghiệp hóa" một số cán bộ chỉ đạo phong trào khuyến học là bắt buộc nếu không muốn việc học tập suốt đời của người lớn bất cập với nhu cầu của thị trường lao động, nguồn nhân lực tại chỗ không kịp thời nâng cao chất lượng theo sự biến đổi nhanh chóng của hệ thống nghề nghiệp trong xã hội.
Thuật ngữ "Chuyên nghiệp hóa" (Professionalization) dùng ở đây có ngụ ý giúp người làm khuyến học ít nhiều được đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện về Andragogy.
Các chương trình huấn luyện cần chú tâm những kiến thức nền tảng sau đây:
1. Kiến thức khoa học giáo dục người lớn (Andragogy)
- Cần hiểu biết trước hết một cách "vỡ lòng" về sự khác biệt giữa người lớn và trẻ em trong học tập như tính tự chủ, kinh nghiệm sống, nhu cầu áp dụng kiến thức vào thực tiễn kịp thời, động lực học tập nội tại...).
- Nắm được phương pháp sư phạm phù hợp: biết cách tổ chức lớp học linh hoạt, cách thảo luận nhóm, cách học tập trải nghiệm và chia sẻ kinh nghiệm thay vì áp đặt một chiều.
2. Kiến thức tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học xã hội và truyền thông
- Nắm bắt tâm lý đối tượng học tập là những người lao động hoặc những người cao tuổi, giúp họ vượt qua một số rào cản (sự e ngại học vì đầu óc bị chi phối bởi nhiều công việc trong đời sống, những định kiến xã hội...) khi họ tiếp cận cái mới.
- Có kỹ năng vận động, thuyết phục người lớn tham gia học tập, thông qua giao tiếp để xây dựng niềm tin, phát triển và lan tỏa phong trào học tập nhằm cuốn hút người dân tham gia học tập thường xuyên.
3. Kiến thức chính trị, pháp luật và xã hội học
- Nắm vững quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng xã hội học tập, giáo dục thường xuyên và đào tạo nguồn nhân lực.
- Hiểu rõ cơ cấu dân cư, nhu cầu sinh kế của người dân trong cộng đồng, đặc điểm văn hóa của địa phương... để thiết kế nội dung vận động thiết thực.
4. Kiến thức về công nghệ số, chuyển đổi số và sử dụng Trí tuệ nhân tạo trong hoạt động khuyến học
- Sử dụng thành thạo các nền tảng số, mạng xã hội, học liệu mở và công cụ truyền thông số để hướng dẫn người dân tự học.
- Có kỹ năng học cùng trí tuệ nhân tạo, qua đó giúp người dân biết cài đặt ứng dụng AI, biết cách hỏi để AI cung cấp những kiến thức cần thiết và kỹ năng kiểm chứng những thông tin AI cung cấp.
- Nhận thức rõ những thách thức công nghệ đối với các nhóm yếu thế để có giải pháp hỗ trợ kịp thời.
5. Kiến thức và kỹ năng tiến hành nghiên cứu khoa học một số công việc mới đặt ra cho cán bộ Hội Khuyến học
- Có kiến thức và kỹ năng thiết kế một cuộc điều tra xã hội học đơn giản với các bước:
Kỹ năng thiết kế một cuộc điều tra xã hội học đơn giản. Đồ hoạ: TTH
- Kiến thức và kỹ năng triển khai một thực nghiệm: Có một số việc cần nghiên cứu để ứng dụng phải dựa vào thực nghiệm (Experiment) như xác định tính hợp lý, độ tin cậy của bộ tiêu chí đánh giá mô hình "Công dân số", cách học tập một vấn đề trên điện thoại di động...
Các bước tiến hành một thực nghiệm dành cho cán bộ khuyến học. Đồ hoạ: TTH
Ví dụ: Mô hình "Công dân học tập" là vấn đề nảy sinh. Để giải quyết vấn đề, trước tiên phải xây dựng mô hình lý thuyết về "Công dân học tập", tổ chức xây dựng mô hình này trong cộng đồng và cuối cùng đánh giá về tính khả thi của mô hình giả định này.
Người làm thực nghiệm phải có kiến thức nền về vấn đề nảy sinh, từ đó xây dựng mô hình và đưa vào cuộc sống để mô hình đó vận hành trong thực tế. Sau quá trình vận hành, người làm thực nghiệm sẽ đối chiếu kết quả với yêu cầu đặt ra để đi tới kết luận.
Người làm công tác nghiên cứu là cán bộ khuyến học tối thiểu phải có kiến thức và kỹ năng triển khai 2 phương pháp trên đây để cho mọi quyết định, mọi chương trình khuyến học không rơi vào tình trạng duy ý chí, bảo đảm được độ tin cậy, độ chính xác khoa học.







