HÀNH TRÌNH HỌC TẬP DƯỚI GÓC NHÌN CỦA PETER HOLLINS
Năm 2023, Peter Hollins - nhà Tâm lý học người Mỹ - cho ra mắt cuốn sách "The Lifelong Learner" (Người học tập suốt đời) bằng tiếng Anh. Cuối năm 2023, tôi có viết lời giới thiệu cuốn sách này trong phiên bản tiếng Việt do Nhà xuất bản Dân Trí cho phát hành.
Với tôi, The Lifelong Learner đang là một học liệu cần có trong cẩm nang của những người Việt đang tham gia vào các lớp học, khoá học hoặc tự học trong phong trào "Học tập suốt đời" do Thủ tướng Chính phủ phát động.
Peter Hollins ngay từ đầu đã hấp dẫn người đọc bằng một vấn đề thú vị: Để tự kiến tạo một cái gì đó mới mẻ, con người phải tìm ra một tri thức chưa từng có. Nếu dùng những tri thức đã có, nghĩa là những tri thức từng được người khác sử dụng trong học thuật hay trong sáng tạo các sản phẩm, chúng ta sẽ loanh quanh, loay hoay với những đồ vật, vật phẩm đang có.
Để có tri thức chưa từng có, con người phải tổ chức cho mình một hành trình học tập tri thức mới (The Journey of Seeking New Knowledge/The pursuit of new knowledge). Thực hiện hành trình này không dễ dàng chút nào, bởi bản chất của nó là "Học, học nữa, học đến cùng". Khi nào đạt được tri thức mới thì hành trình sẽ được kết thúc như một chặng đường chạy marathon. Chạy được một đoạn ngắn thấy mệt và bỏ cuộc thì coi như tiêu tan hành trình.
Không ít người ngại khó, muốn yên phận, không dám dấn bước tìm kiếm kiến thức mới, coi kiến thức đã có là đủ rồi. Họ đã tạo ra trong tâm lý của mình một trạng thái tự bằng lòng với những gì đã học. Peter Hollins gọi trạng thái đó là vùng an toàn (Comfort Zone).
Dấn bước trên con đường học hỏi đầy khó khăn như sự mệt nhọc về trí óc, sự khó khăn về những đoạn đường từ nhà tới lớp học, những áp lực tài chính... được gọi là là hành trình đi qua vùng sợ hãi (Fear Zone). Không đủ ý chí, nghị lực và tinh thần vượt khó, nhiều người quay lại với vùng an toàn. Cuộc đời lại trở về yên tĩnh, con người lại đứng yên trước dòng chảy của những tri thức, cuộc sống của họ được cố định, không có gì thay đổi.
Hành trình học tập dưới góc nhìn của Peter Hollins. Đồ hoạ: TTH
Nếu người học vượt qua được vùng sợ hãi, họ sẽ đi vào vùng học tập. Việc học tập thường xuyên, suốt đời sẽ giúp họ đủ năng lực thích nghi với thế giới đang thay đổi liên tục. Kết quả là, họ sẽ bước vào giai đoạn phát triển, trưởng thành trong từng bước đi lên của xã hội.
Trên thực tế, mô hình hành trình tri thức mà Peter Hollins dựa vào để phát triển lý thuyết của mình. Đó vốn là mô hình "4 vùng phát triển" (The Learning Zone Model), mà bản vẽ trong bài viết này là phiên bản được chuẩn hoá nhất hiện nay. Thuật ngữ "The Knowledge Journey" trong mô hình trên là một hành trình tìm kiếm tri thức cần thiết của từng cá nhân.
Nguồn gốc sâu xa của mô hình này bắt đầu từ "Định luật Yerkes-Dodson (1908)". Hai nhà tâm lý học đó chứng minh rằng, hiệu suất làm việc tăng lên khi mức độ căng thẳng/lo lắng cũng tăng lên, nhưng chỉ đến một ngưỡng nhất định. Quá ngưỡng đó thì sẽ sụp đổ. Đây là cơ sở khoa học cho việc "phải ra khỏi vùng thoải mái/an toàn".
Đến năm 1930, Lev Vygotsky (Nga) đưa ra vùng phát triển gần (Zone of Proximal Development - ZPD), cho rằng việc học hỏi tốt nhất xảy ra ở vùng nằm giữa cái đã biết và cái chưa biết, chưa thể làm được.
Năm 1991, trong tác phẩm "Danger in the Comfort Zone", Judith Bardwick nói đến vùng an toàn (Comfort Zone) và đưa ra định nghĩa về vùng này.
Năm 2009, Alasdair White (Anh) mới vẽ ra 4 vòng tròn đồng tâm để mô tả hành trình học tập trong bài báo From Comfort Zone to Performance Management.
Peter Hollins đã dựa vào mô hình hành trình học tập qua hình các vòng tròn lệch tâm đó để trình bày lý thuyết của mình. Đây là phiên bản được chế lại sau nhiều lần, mà có lẽ lần cuối là do Noel M. Tichy, giáo sư quản trị Đại học Michigan đưa ra, Peter Hollins dựa vào đó để phát triển thành mô hình học thuật.
Đóng góp của Hollins là biến một mô hình lý thuyết thành một hệ thống hành động với 3 điểm cụ thể:
- Ông đặt tên cho cơ chế quay lại là Homeostasis tâm lý (Cân bằng nội sinh tâm lý): não bộ con người được lập trình để tiết kiệm năng lượng và tránh rủi ro. Nó sẽ luôn kéo bạn về vùng Comfort Zone. Fear Zone không phải là một lỗi, mà là cơ chế sinh tồn.
- Peter Hollins đưa ra công thức để con người đi qua đoạn đường từ Fear Zone đến Learning Zone. Người ta sẽ không tự động viên "phải can đảm lên", mà đưa ra chiến lược:
Hãy hạ thấp mức độ nghiêm trọng (Lower the stakes), đừng nghĩ tôi phải thành công, mà chỉ nghĩ tôi phải thử nghiệm.
Hãy chịu khó có chủ đích (Deliberate Discomfort), mỗi ngày chịu khó một chút để não bộ quen dần với cảm giác không thoải mái.
Hãy hành động có mục tiêu (Objective over Emotion), không dựa vào cảm xúc sợ hãi.
Peter Hollins định nghĩa lại Growth Zone mà White đã nói đến. Người học trong hành trình tiếp cận tri thức mới không chỉ giỏi hơn, mà trở thành con người khác hẳn với ban đầu. Họ dấn bước vào vùng sợ hãi, rồi nỗ lực từ các bước tiếp trong vùng học tập, để rồi, theo từng bước đó, giới hạn của vùng an toàn (Comfort Zone) nới rộng dần. Mũi tên "hành trình tri thức" sẽ tiến theo một đường thẳng, không hề có sự quay lại.
HÀNH TRÌNH HỌC TẬP CÙNG AI TRONG KỶ NGUYÊN SỐ
Chúng ta vừa nhìn lại mô hình "Hành trình học tập" trong xã hội truyền thống mà Peter Hollins đã dùng. Đó là mô hình các vùng mà hành trình học tập phải đi qua.
Mô hình của Peter Hollins ứng với thế hệ người học bao gồm thế hệ X, Y là chủ yếu. Những thế hệ này được coi là dân nhập cư vào xã hội số (Digital Immigrant); họ sẽ học tập để trở thành những công dân số (Digital Citizens) nếu họ vượt qua được vùng sợ hãi.
Hiện nay, Generative AI (Trí tuệ nhân tạo tạo sinh) đã hiện diện trong xã hội. Việc học tập của con người là hành trình học cùng AI, và hành trình đó có cấu trúc khác với hành trình theo mô hình của Peter Hollins.
Tham khảo từ nhiều nguồn, tôi thiết kế hành trình AI-Enhanced Learning Journey (Hành trình học tập được AI tăng cường), tức là hành trình học tập cùng AI như sau:
Hành trình học tập cùng AI. Đồ hoạ: TTH
Đây là hành trình học tập cùng Trí tuệ nhân tạo mà đối tượng chính của hành trình là thế hệ Z (Gen Z) với tư cách Digital Native (người sinh ra trong kỷ nguyên số) và thế hệ Alpha (Gen A) với tư cách là AI Native (người sinh ra trong kỷ nguyên AI).
Lưu ý trong hành trình này, Gen Z và Gen A vẫn có nỗi lo khi thực hiện hành trình học tập nhưng không bị áp lực lớn bởi ngay từ thơ ấu, kỹ năng số với Gen Z hầu như là bẩm sinh, còn với Gen Alpha thì kỹ năng làm quen với AI có ngay từ khi mới vài tuổi biết dùng ngón tay chơi điện thoại di động. Nếu họ lo lắng trong học tập thì chỉ là lo mau chóng rút ngắn khoảng cách tâm lý với AI mà thôi.
Vùng quen thuộc của người học là nơi họ đã có kinh nghiệm làm việc với các ứng dụng AI, có tri thức bản địa và kinh nghiệm sống với AI... Đó là cái vốn để họ bước vào hành trình học với AI.
Khi đi vào vùng kết nối với AI, người học chỉ cần thực hiện 3 điều: Hiểu được AI sẽ giúp họ những gì, họ cần đặt câu hỏi như thế nào để AI giúp họ như ý và họ biết mình nên kiểm chứng ý kiến mà AI đưa ra như thế nào.
Trong vùng tương tác với AI, người học sẽ đối thoại với AI, thử nghiệm những điều đã học cùng AI và giải quyết vấn đề cùng AI. Thông qua mấy việc này, việc học của con người sẽ được AI cá nhân hóa và tri thức cá nhân mở rộng nhanh chóng.
Sau hành trình học tập, con người cùng AI tạo ra một năng lực mới mà trước hành trình học chưa có.
BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ - MỘT HÀNH TRÌNH HỌC TẬP CỦA QUẢNG ĐẠI NHÂN DÂN
Bình dân học vụ số là một dấu nối với Bình dân học vụ do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động và chỉ đạo. Nếu Bình dân học vụ (1945) hướng tới mục tiêu xóa mù chữ quốc ngữ thì Bình dân học vụ số (2025) là cuộc vận động xóa mù công nghệ số.
Nhưng khi triển khai phong trào xóa mù số, chúng ta cần lưu ý tới những đặc điểm của bối cảnh sau đây:
Theo chương trình xóa mù chữ cơ bản, tính đến hết năm 2025, dân chúng ở độ tuổi 15-60 đều đã đạt được trình độ giáo dục phổ thông tối thiểu là lớp 5.
Chỉ ở những vùng quá khó khăn, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số mới có người lao động còn mù chữ quốc ngữ.
Khi Nhà nước vận động nhân dân xóa mù số thì trên thực tế lại xuất hiện trí tuệ nhân tạo (AI). Trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, nhiều người không chỉ mù kỹ thuật số (Digital Illiteracy), mà còn mù về sử dụng AI (AI Illiteracy).
Do vậy, hành trình Bình dân học vụ số không chỉ chăm lo cho người dân nắm được công nghệ số (Digital Literacy) mà còn đồng thời phải giúp người dân có kiến thức và kỹ năng để hiểu, sử dụng, tương tác với các công cụ AI một cách an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm (AI Literacy).
Nếu không đồng thời xóa mù số và xóa mù AI, kết quả lao động của nhiều người sẽ rất hạn chế. Trên thực tế, một cuộc vận động có tên "Bình dân học AI" đã được dấy lên. Cuộc vận động này do Lê Công Thành - CEO công ty công nghệ InfoRe Technology - khởi xướng và lan tỏa với mục tiêu đưa công nghệ AI tiếp cận số đông, xóa bỏ rào cản công nghệ cho đông đảo quần chúng người Việt.
Đứng trước bối cảnh xã hội có những đặc điểm trên đây, tôi cho rằng, hành trình học tập Bình dân học vụ số đồng thời cũng là hành trình học tập cùng AI. Phỏng theo mô hình hành trình học tập do Peter Hollins đề xuất, tôi đưa ra mô hình hành trình học tập Bình dân học vụ số dưới đây:
Hành trình học tập Bình dân học vụ số cùng AI.
Ghi chú:
1. Vùng An toàn truyền thống: Người học quen với lối học có người dạy, quen làm việc với kinh nghiệm riêng, có vốn kiến thức nhất định.
2. Vùng sợ hãi: Người học ngại ngùng trong tiếp cận với công cụ số và AI.
3. Vùng học AI: Biết cài đặt AI, biết đặt câu lệnh, biết bảo vệ dữ liệu.
4. Vùng ứng dụng : AI trở thành trợ lý.
5. Vùng kiến tạo : Người học đã có kiến thức và kỹ năng học cùng AI, làm việc có sáng tạo.
Người học cộng sinh với AI trong học tập (Human + AI Intelligence)
Tới đây, hành trình học tập bổ túc văn hoá số cùng AI kết thúc một giai đoạn. Người học không còn là nguyên mẫu như trước khi bước vào hành trình, mà là một phiên bản mới về chính mình.
Hành trình học tập bình dân học vụ số cùng AI cho người học thấy rằng, AI đến với hành trình này không thay thế người thầy, không học thay người học, AI hiện diện như một tấm gương. Học cùng AI là phương thức Hỏi để AI trả lời. Câu hỏi sâu thì câu trả lời sâu. Trong quá trình gọt giũa câu hỏi cho thêm chiều sâu, chính tư duy ta được gọt giũa.
Sau một hành trình học tập, người học bước ra với một nhận thức khác: kiến thức không nằm trong máy, mà nằm trong năng lực biến thông tin của máy thành trí tuệ của mình. Cứ sau một hành trình, ta trở thành một phiên bản mới. AI là bệ phóng, người học bay cao, ngày càng cao, nhưng vẫn là chính mình.




