Công dân khuyến học

Từ 5/10, những nhóm trẻ em nào được hưởng trợ cấp 1,35 triệu đồng mỗi tháng?

Từ 5/10, những nhóm trẻ em nào được hưởng trợ cấp 1,35 triệu đồng mỗi tháng?

Đỗ Tho

Đỗ Tho

18:30 - 13/09/2026
Công dân & Khuyến học trên

Từ ngày 5/10/2026, một số nhóm trẻ em dưới 4 tuổi thuộc diện trợ giúp xã hội được hưởng trợ cấp 1,35 triệu đồng mỗi tháng. Khoản tiền này được tính theo mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng và hệ số 2,5, nhưng không áp dụng cho tất cả trẻ em dưới 4 tuổi.

Nghị định 335/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội được ban hành ngày 21/8/2026 và có hiệu lực từ ngày 5/10/2026. Theo Điều 4, mức chuẩn trợ giúp xã hội được nâng lên 540.000 đồng/tháng, là căn cứ để xác định mức trợ cấp đối với từng nhóm đối tượng.

Theo Điều 5 và Điều 6 của nghị định, mức trợ cấp 1,35 triệu đồng/tháng tương ứng với hệ số 2,5 và áp dụng đối với ba nhóm trẻ em dưới 4 tuổi.
Từ 5/10, trẻ em được nhận 1,35 triệu đồng trợ cấp mỗi tháng thuộc nhóm đối tượng nào? - Ảnh 1.

Từ ngày 5/10, trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng sẽ được hưởng 1.350.000 đồng/tháng trợ cấp xã hội, tương ứng hệ số 2,5.

3 nhóm trẻ em hưởng trợ cấp 1,35 triệu đồng/tháng từ 5/10/2026

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo các trường hợp quy định 

Nhóm thứ nhất là trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP.

Các trường hợp này gồm trẻ em bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; trẻ em có cả cha và mẹ đã chết hoặc một người đã chết, người còn lại không xác định được; trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được, người còn lại bị tuyên bố mất tích; đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; hoặc đang chấp hành án phạt tù, quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngoài ra còn có trường hợp cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích; cả cha và mẹ đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; cả cha và mẹ đang chấp hành án phạt tù hoặc quyết định xử lý vi phạm hành chính; hoặc các trường hợp kết hợp giữa những hoàn cảnh nêu trên.

Với nhóm này, Điều 6 quy định trẻ dưới 4 tuổi hưởng hệ số 2,5, tương đương 1,35 triệu đồng/tháng. Từ đủ 4 tuổi trở lên, hệ số còn 1,5, tương đương 810.000 đồng/tháng.

Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo

Nhóm thứ hai là trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, được quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP.

Theo Điều 6, trẻ em trong nhóm này dưới 4 tuổi được hưởng hệ số 2,5, tương ứng 1,35 triệu đồng/tháng. Trẻ từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi được hưởng hệ số 2,0, tương đương 1,08 triệu đồng/tháng.

Như vậy, điều kiện về độ tuổi chỉ là một phần của tiêu chí. Không thể hiểu quy định này theo hướng mọi trẻ dưới 4 tuổi thuộc hộ nghèo đều được nhận 1,35 triệu đồng; chính sách tại khoản 3 Điều 5 yêu cầu đối tượng phải là trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng

Nhóm thứ ba là trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng, thuộc nhóm người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng quy định tại khoản 6 Điều 5.

Điều 6 quy định trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng được áp dụng hệ số 2,5, tương ứng 1,35 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, người khuyết tật đặc biệt nặng nói chung hưởng hệ số 2,0; trẻ em khuyết tật nặng hưởng hệ số 2,0, tương ứng 1,08 triệu đồng/tháng.

Điều này cho thấy mức 1,35 triệu đồng không được xác định đơn thuần theo độ tuổi mà còn phụ thuộc vào tình trạng và nhóm đối tượng được pháp luật xác định.

Trẻ dưới 3 tuổi ở vùng đặc biệt khó khăn được hưởng mức trợ cấp nào?

Theo khoản 7 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo, đang sống tại xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, với điều kiện không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 3 và khoản 6 Điều 5.

Đối với nhóm này, Điều 6 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định hệ số trợ cấp 1,5. Với mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng, số tiền trợ cấp tương ứng là 810.000 đồng/tháng.

Như vậy, trẻ dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo tại địa bàn đặc biệt khó khăn không thuộc nhóm hưởng mức 1,35 triệu đồng/tháng theo quy định trên. Mức 1,35 triệu đồng chỉ áp dụng đối với các nhóm đối tượng được quy định với hệ số 2,5 tại Điều 6 và phải đáp ứng đầy đủ điều kiện tương ứng.

Việc chi trả chính sách được thực hiện từ nguồn kinh phí theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Nghị định 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 5/10/2026, thay thế các quy định trước đây về chính sách trợ giúp xã hội được nêu trong điều khoản thi hành.

Bình luận của bạn

Bình luận

icon icon