Hoạt động khuyến học trong đặt ruộng ở các làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ thời xưa
Đặt ruộng học (học điền) ở nước ta mở ra từ thời Trần, vào năm 1397, đời vua Trần Thuận Tông, dùng để khuyến khích việc học tập tại các phủ châu do nhà nước quản lý.
Tại các làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi người dân tự chăm lo giáo dục cho con em địa phương thì đặt ruộng để khuyến khích cộng đồng làng xã hăng say học tập luôn được coi trọng.
Ở cấp tổng, đầu triều Nguyễn, vào năm 1812, vua Gia Long "Chuẩn định cho các dinh trấn trong ngoài, các tổng bảo cử những người văn học uẩn súc, đáng làm khuôn phép cho học trò, ai tuổi 50 trở lên, mỗi tổng 2 hoặc 3 người, do trấn cấp giấy ủy nhiệm cho miễn việc binh, việc sưu để dạy những học trò mới học".
Theo tinh thần đó, việc đặt ruộng học ở tổng lấy nguồn lương thực nuôi thầy và chi phí cho việc học trong tổng được đặt ra đối với các làng xã trong tổng. Hiện mới có thông tin duy nhất về đặt ruộng học hàng tổng của tổng Sơn Bình, huyện Lập Thạch (nay thuộc địa bàn xã Tiên Lữ, tỉnh Phú Thọ).
Theo văn bia dựng tại Văn từ của tổng cho biết vào năm 1854, các xã Sơn Bình, Phan Lãng, Hạ Phan, Lai Châu, Triệu Xá, mỗi xã cung tiến 3 mẫu 2 sào ruộng công làm ruộng học của tổng. Thôn Đình Chu và Bình Đô của xã Chu Đề, mỗi thôn góp 1 mẫu 6 sào ruộng công.
Cai tổng bản tổng Hoàng Tĩnh cung tiến 3 mẫu 2 sào ruộng tư làm ruộng học cho tổng. Nâng tổng số ruộng học của tổng thành 22 mẫu 4 sào. Trích 6 mẫu 4 sào đặt làm ruộng tế Tiên hiền bản tổng, số còn lại gồm 16 mẫu dùng làm ruộng học của tổng.

Học điền bi ký của xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm (nay là phường Xuân Đỉnh, thành phố Hà Nội).
Ở cấp xã, việc đặt ruộng học diễn ra phổ biến với nhiều tên gọi khác nhau. Đi đầu trong đặt ruộng học ở cấp xã là hai xã Văn Trưng và Lăng Trưng, huyện Bạch Hạc (nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ).
Hai xã này như đề cập, ngoài ngôi trường dân lập được xây dựng sớm nhất ở nước ta thì tại đây cũng là nơi đặt ruộng học sớm nhất trong cả nước. Trong tổng số 4 mẫu 7 sào 5 thước ruộng do 45 cặp vợ chồng của hai xã đóng góp vào niên hiệu Chính Hòa thứ 23 (1702), hai xã trích 3 sào đất xây dựng trường học, số còn lại gồm 4 mẫu 4 sào 5 thước đặt làm ruộng học của hai xã.
Ngoài tên gọi phổ biến là học điền, có nơi đặt ruộng học với tên gọi là "Vệ đạo điền" (Ruộng bảo vệ đạo học) như xã Địa Tang, huyện Yên Lạc (nay là xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ), gồm 2 mẫu. Có nơi đặt ruộng học là "Văn học điền" (Ruộng dùng cho người theo đường văn học), như xã Ninh Cường, huyện Trực Ninh (nay là xã Ninh Cường, tỉnh Ninh Bình), gồm 1 mẫu.
Có nơi đặt ruộng học là "Học hiệu điền" (Ruộng của trường học), như xã Vân Bán, huyện Cẩm Khê (nay là xã Vân Bán, tỉnh Phú Thọ), gồm 3 mẫu. Có nơi đặt ruộng học là "Khuyến học điền" (Ruộng khuyến học), như xã Tây Đằng, huyện Tiên Phong (nay là xã Quảng Oai, thành phố Hà Nội), gồm 2 mẫu.
Có nơi đặt ruộng học cho cả ngạch văn và ngạch võ, vốn là hai ngạch đào tạo trong nền giáo dục khoa cử đương thời, như xã An Lâm, huyện Yên Mô (nay thuộc xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình), trong đó ngạch văn gọi là "Văn điền" (Ruộng cho người theo đường văn học), ngạch võ gọi là "Võ điền" (Ruộng cho người theo đường ngạch võ), mỗi ngạch 1 mẫu.
Có nơi đặt đất vào mục đích học tập, gọi là "Hưng học thổ" (Đất dùng chấn hưng việc học) như xã Lục Châu, huyện Phúc Thọ (nay thuộc địa bàn huyện Phúc Thọ cũ, thành phố Hà Nội), gồm 10 mẫu. Lý do có thể hiểu đây là xã ven sông, có nhiều đất bãi nên dành số lượng lớn về đất để khuyến khích học tập cho con em trong xã.
Có nơi sử dụng ao, gọi là "Học trì" (Ao dùng trong học tập), như xã Quang Húc, huyện Phúc Thọ (nay thuộc địa bàn huyện Phúc Thọ cũ, thành phố Hà Nội), dùng thả cá thu nguồn lợi làm lương nuôi thầy giáo làng...
Ở cấp thôn, việc đặt ruộng học cũng giống như cấp xã, tức tùy theo điều kiện của từng thôn mà đặt ruộng học nhiều hay ít. Thôn Phùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất (nay là xã Tây Phương, thành phố Hà Nội), đặt 2 mẫu, ghi trên bia Học điền bi ký, tạo niên hiệu Thiệu Trị thứ 3 (1843); Thôn Tri Chỉ, xã Đồng Cương, huyện Yên Lạc (nay là thôn Tri Chỉ, xã Yên Lạc, tỉnh Phú Thọ), đặt 6 mẫu; thôn Nam, xã Đại Đồng, huyện Phú Xuyên (nay là xã Phú Xuyên, thành phố Hà Nội), đặt 2 đoạn ngòi thả cá "làm lương nuôi thầy giáo".
Việc đặt ruộng học theo ba cấp độ như đề cập được thực hiện dưới 4 hình thức: Hình thức thứ nhất là trích ruộng công, loại này là phổ biến nhất. Số liệu thống kê cho thấy, toàn tỉnh Ninh Bình trước thời điểm 1919 - Thời điểm chấm dứt nền giáo dục khoa cử Nho học nước nhà, cả tỉnh có 25 xã, thôn, trang, trại... đặt học điền, cả 25 nơi đều dùng ruộng công;
Hình thức thứ hai là góp tài sản của dân, như xã Phù Chính, huyện Bạch Hạc (nay thuộc xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ), vào niên hiệu Tự Đức thứ 20 (1867), nơi đây có phong trào quyên góp ruộng, vườn và tiền vào mục đích học tập diễn ra rất sôi nổi. Kết quả có 65 người đóng góp tổng cộng được 6 mẫu [không sào] 2 thước và 5 thửa vườn, cùng số tiền 76 quan;
Hình thức thứ ba là lưu quan điền, như ở xã Hạ Yên Quyết, huyện Từ Liêm (nay là phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội), " Bản xã có ruộng Tưởng lệ độc thư (Ruộng khen ngợi đọc sách), gồm 6 đoạn, cộng thành 3 mẫu được trích từ quan điền".
Để ruộng học dùng đúng mục đích học tập, mỗi nơi đặt ra cách quản lý khác nhau. Thôn Hạnh Đàn, xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất (nay là xã Thạch Thất, thành phố Hà Nội) đặt lệ: "Học điền do 4 giáp trong thôn chia nhau cày cấy, mỗi năm mỗi mẫu nộp thóc 450 đấu, ngoài số thóc đó do người cày cấy được hưởng" và quy định: "Hoa lợi của học điền không được tùy tiện dùng vào việc khác".
Có nơi phát canh học điền, như xã Tây Đằng, huyện Tiên Phong (nay là xã Quảng Oai, thành phố Hà Nội), do xã đặt ruộng "Dưỡng sư" (Ruộng nuôi dưỡng thầy giáo), gồm 4 mẫu "đem phát canh hằng năm thu mỗi mẫu 400 đấu thóc, dùng đấu 3 tuổi để cung ứng công dạy bảo một năm của thầy".
Có nơi đấu giá học điền, như thôn Vệ, xã Đông Đồ, huyện Đông Anh (nay thuộc xã Đông Anh, thành phố Hà Nội), quy định: "Công dân có học điền 1 mẫu 7 sào, hằng năm cho đấu giá, người nào trúng thì nhận canh tác số ruộng này, trích thu hoa lợi lấy 24 đồng bạc sung cho học bổng để dân miễn phải đóng góp lương cho thầy"...
Như vậy, hoạt động khuyến học thông qua đặt ruộng, gồm cả đất, vườn, ao tại các làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ diễn ra lâu dài, gắn với nền giáo dục khoa cử Nho học nước nhà, giai đoạn 1075-1919. Hoạt động này dù ở cấp độ nào cũng tạo ra sản phẩm là những "Quỹ khuyến học" của làng xã thời xưa, chỉ khác thay vì đóng góp bằng tiền như hiện nay thì trước đây đóng góp bằng ruộng đất.
Các Quỹ khuyến học đó góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước và được xem là nét riêng, có tính chất đặc thù trong hoạt động khuyến học ở Việt Nam thời quân chủ.
*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long.

Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.
Đăng nhập để tham gia bình luận
Đăng nhập với
Facebook Google