Hoạt động khuyến học thời Tây Sơn
Thời Tây Sơn (1778-1802) là vương triều có hoạt động khuyến học được coi là đặc biệt ở nước ta. Ngay từ khi mới lên ngôi, dù trong nước còn bề bộn công việc nhưng vua Quang Trung (1788-1792) đã nhìn thấy vai trò to lớn trong việc khuyến học, đào tạo nhân tài cho đất nước.

Bảo tàng Quang Trung. Ảnh: wikipedia
Vua Quang Trung đã giao Ngô Thì Nhậm, vị trí thức đỗ Tiến sĩ Nho học triều Lê thay ông soạn ra "Lập học chiếu" (Chiếu lập học) nói về việc xây dựng chế độ học tập ở trong nước.
Đây được coi là bản "Tuyên ngôn về khuyến học" ở nước ta. Văn bản "Lập học chiếu" viết bằng chữ Hán, nội dung rất ngắn gọn, toàn văn như sau:
CHIẾU LẬP HỌC:
Xuống chiếu cho các quan viên và dân chúng trong thiên hạ biết: xây dựng đất nước, lấy dạy học làm đầu, tìm lẽ trị bình, tuyển nhân tài làm gấp. Trước kia bốn phương xảy ra nhiều việc biến động, chế độ học hành không được sửa sang, phép khoa cử dần dần sa sút, nhân tài ngày một khan hiếm. Việc đời lúc trị lúc loạn là lẽ tuần hoàn. Song sau khi loạn càng cần phải hưng khởi chấn chỉnh, lập giáo hóa, đặt khoa cử. Đó là quy mô lớn chuyển loạn thành trị vậy.
Trẫm buổi đầu đại định vẫn có ý coi trọng Nho học, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn tìm những người thực tài để giúp ích cho đất nước.
Chiếu này ban xuống, dân các xã lập nhà học của xã mình, chọn những Nho sĩ có học hạnh, đặt làm chức Giảng dụ cấp xã để dạy dỗ học trò.
Còn như Từ vũ ở các phủ thì cho phép nhân dân địa phương chọn làm nơi để quan Huấn đạo của phủ đến đặt làm trường giảng tập của phủ.
Hẹn trong năm nay sẽ mở khoa thi Hương chọn lấy những Tú tài hạng ưu sung vào trường quốc học, còn hạng thứ nhì thì đưa về trường học ở phủ.
Người đỗ Hương cống của triều cũ chưa được bổ nhiệm thì đưa đến triều đình đợi sung bổ vào các chức Huấn đạo, Tri huyện.
Các Nho sinh và Sinh đồ cũ đều cho đợi đến kỳ để vào thi.
Loại ưu thì được vào tuyển, loại kém thì trả về trường học của xã.
Còn các "Sinh đồ ba quan" thì đều trả về hạng thường dân và phải cùng gánh vác phu phen tạp dịch.
Từ nay về sau, các xã hễ đặt chức Giảng dụ thì phải nộp danh sách cho quan huyện để chuyển đệ lên, để quan triều đình cấp bằng, khiến họ biết được sự khích lệ của trên.
Việc này quan hệ đến điển chương lớn buổi đầu, ai nấy phải mài rũa chí khí, phấn chấn tinh thần để đón phúc lành, để cùng bước lên đường rộng rãi, giúp cho nền thịnh trị trong sáng.
Vậy bố cáo xa gần khiến mọi người cùng biết.
Chiếu lập học có bốn điểm mới
Thứ nhất: lần đầu tiên ở nước ta đã lập trường học đến cấp xã. Trước đó, từ thời Lê Trung hưng đến thời Lý, ở trong nước mới chỉ xây dựng được hệ thống giáo dục từ cấp huyện đến cấp phủ mà cao nhất là trường Quốc Tử Giám ở Thăng Long.
Tức đó là hệ thống giáo dục công lập theo ba cấp độ: cấp huyện, cấp phủ và cấp trung ương, do nhà nước quản lý. Tại những nơi này, nhà nước đặt các chức Giáo thụ, Huấn đạo và Đốc học để chăm lo việc giáo dục, đào tạo nhân tài cho quốc gia.
Nói như thế để thấy độ "phủ sóng" của màng lưới giáo dục trước thời Tây Sơn còn hạn hẹp, chưa phát triển xuống đến cấp xã, vốn là địa bàn rộng lớn cung cấp nhân tài cho đất nước.
Như thế có nghĩa các làng xã ở nước ta trước thời Tây Sơn nếu muốn con em có trường lớp học tập thì phải do dân tự lập (hình thức này rất hãn hữu) hoặc là mời Thầy về dạy tư thục (hình thức này là chủ yếu).
Đến đây đã thay đổi, bằng cách nhà nước cho mở thêm trường công lập đến cấp xã và đặt ra chức Giảng dụ để chăm lo việc học tập tại cấp xã.
Điều này giúp người dân không phải lo liệu mời Thầy về dạy tư thục vì đã có trường công lập do nhà nước thiết lập tại địa phương. Qua đó cho thấy đến thời Tây Sơn, hệ thống giáo dục ở nước ta có 4 cấp độ do nhà nước quản lý, gồm cấp xã, cấp huyện, cấp phủ và cấp trung ương.
Tư liệu khắc trên bia, ghi trên chuông, viết trong gia phả của một số dòng họ có đề cập đến chức Giảng dụ và chức Xã giáo ở thời kỳ này đã chứng minh điều đó.
Thứ hai: Từ vũ (nơi thờ Khổng Tử và Tiên hiền của Nho giáo) ở cấp phủ cho phép được dùng làm trường học của phủ. Trước đó Từ vũ (có nơi gọi là Văn miếu, Văn từ, Từ chỉ...) chuyên dùng làm nơi tế lễ Tiên thánh, Tiên hiền của Nho giáo vào hai ngày Đinh của tiết Xuân, Thu hằng năm.
Đến thời Lê Trung hưng, vào năm 1660, nhà nước quy định Sinh đồ ở các phủ, huyện, xã hằng năm cứ hai kỳ tế Đinh vào mùa Xuân và mùa Thu thì phải đến Văn miếu bản phủ để giúp việc tế lễ và trình diện.
Nay được tận dụng làm trường học của phủ không chỉ tiết kiệm được kinh phí xây dựng trường học của phủ mà còn tiết kiệm được thời gian đi lại cho sĩ tử, giúp người đi học chú tâm vào con đường học tập và thi cử.
Sự kết hợp giữa nơi thờ với nơi giảng dạy học tập như thế thấy ở Văn từ của phủ Hoài Đức, đặt ở xã Mễ Đình huyện Từ Liêm (nay là phường Từ Liêm, thành phố Hà Nội), phản ánh qua nguồn tư liệu văn bia có tại đây.
Thứ ba: chú trọng đến thực học. Vào thời Lê Trung hưng có hiện tượng không nghiêm túc trong thi cử. Chẳng hạn thi Hương vào các năm Đinh Dậu (1657), Canh Tý (1660) và Quý Mão (1663) xảy ra tiêu cực, ghi trong chính sử.
Hoặc vào đầu thời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), thí sinh thi Hương chỉ cần nộp tiền 3 quan thì không phải qua khảo hạch, dân gian gọi đây là " Sinh đồ ba quan".
Đến thời Tây Sơn, những Sinh đồ đó không được sử dụng, bắt phải về quê làm dân thường và chịu sưu sai, tạp dịch. Điều này không ngoài mục đích là để khuyến học, nhằm lựa chọn nhân tài phục vụ trong bộ máy nhà nước ở thời Tây Sơn.
Thứ tư: nối lại thi cử để chọn nhân tài giúp nước. Trong Chiếu lập học có nói "hẹn trong năm nay" tức năm 1788 sẽ mở khoa thi Hương của bản triều. Thực tế phải sang năm sau, tức năm Kỷ Dậu (1789) mới mở được một khoa thi Hương ở vùng Thanh - Nghệ An.
Sĩ tử miền Bắc cũng tham dự tại đây. So với thi Hương truyền thống, thi Hương ở triều Tây Sơn chỉ có hai kỳ, tương ứng với kỳ đệ nhất và đệ nhị của thi Hương trước đó. Và lần đầu tiên thí sinh làm bài thi bằng chữ Nôm thay vì bằng chữ Hán là điều chỉ thấy ở vương triều Tây Sơn.
Số người đỗ ở khoa thi này hiện chưa rõ nhưng đã được ghi lại lẻ tẻ trong một số thư tịch Hán Nôm ở nước ta.
Sau khi vua Quang Trung qua đời, vua Quang Toản (1793-1802) lên nối ngôi, việc khuyến học vẫn được duy trì theo tôn chỉ của vua cha. Song đây là lúc vương triều Tây Sơn suy yếu, chỉ tổ chức được hai khoa thi, gọi là khảo khóa vào năm Canh Thân (1800) và Tân Dậu (1801).
Người đỗ ở hai khoa này nếu là hạng "Thượng khóa" thì được miễn thuế thân suốt đời, nếu là hạng "Hạ khóa" thì được miễn sưu thuế ba năm.
Tiếc rằng vương triều Tây Sơn chỉ tồn tại trong 24 năm (1788-1802), nên hoạt động khuyến học cũng phải dừng bước nhưng đã để lại những dấu ấn khó phai mờ trong hoạt động khuyến học ở nước ta trước đây.
*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.
Đăng nhập để tham gia bình luận
Đăng nhập với
Facebook Google