Công dân khuyến học

Đề khảo sát môn Ngữ văn 12: Hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót

Đề khảo sát môn Ngữ văn 12: Hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót

Ly Hương

Ly Hương

15:57 - 28/01/2026
Công dân & Khuyến học trên

Câu nghị luận xã hội đề khảo sát môn Ngữ văn 12 Trường Trung học phổ thông Lam Kinh – Thanh Hoá, yêu cầu học sinh trình bày suy nghĩ về vấn đề hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót.

Đề khảo sát môn Ngữ văn 12: Hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót - Ảnh 1.

Đề khảo sát môn Ngữ văn 12: Hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót - Ảnh 2.

Gợi ý đáp án Đọc hiểu

Câu 1. Dấu hiệu: Người kể không trực tiếp xuất hiện (người kể giấu mình) nhưng vẫn thấu hiểu và tái hiện tâm tư, suy nghĩ của nhân vật một cách sâu sắc. Truyện được kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2. Theo văn bản, điều khiến Thai sung sướng khi bão về vì: "hắn chỉ có hai bàn tay trắng, những thằng không có của không bao giờ mất của."

Câu 3. Biện pháp câu hỏi tu từ: "Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu?"? Tác dụng: Tạo nhịp điệu cho câu văn, tăng giá trị gợi cảm cho diễn đạt, làm lời văn trở nên hấp dẫn. Nhấn mạnh, làm nổi bật sự bất lực, cùng quẫn, bế tắc của Thai trong hoàn cảnh nợ nần. Thể hiện thái độ băn khăn, trăn trở của nhà văn trước bi kịch của con người.

Câu 4. Những nguyên nhân khiến Thai mất đi mảnh vườn của mình và rơi vào bi kịch bần cùng: Nguyên nhân trực tiếp do Thai chơi cờ bạc thua phải vay tiền người ta, mà cuối cùng không có tiền trả. Một nguyên nhân khác là do những kẻ cơ hội tìm cách đưa Thai vào tròng bằng những chiêu trò cho vay cố vườn. Đây chính là sự lưu manh của những kẻ có tiền trong xã hội đương thời.

Hiện thực xã hội đương thời: Áp lực nặng nề của xã hội phong kiến đầy bất công, bóc lột, khiến người nông dân chất phác như Thai bất lực trước hoàn cảnh và bị tha hóa dần; chọn cách buông xuôi, chấp nhận số phận, dẫn đến mất đi tài sản, nhân phẩm và rơi vào bi kịch tột cùng. Đây là một trong những bi kịch bần cùng, tha hóa của người nông dân trước Cách mạng.

Mảnh vườn - nơi "làm tổ" và tạo ra kế sinh nhai bị tước đoạt, thể hiện sự tàn khốc của xã hội đương thời đối với người lao động.

Câu 5. Cả hai ngữ liệu đều cho thấy người nông dân vốn có phẩm chất lương thiện, nhưng bị hoàn cảnh xô đẩy, biến họ thành những kẻ tha hóa, rơi vào bi kịch bế tắc, tuyệt vọng, không lối thoát. Tố cáo xã hội thực dân phong kiến tàn ác, đã đẩy người nông dân vào cảnh khốn cùng, bần cùng hóa và tha hóa nhân hình, nhân tính.

Sự khác biệt: Hai ngữ liệu phản ánh hai khía cạnh khác nhau của bi kịch người nông dân trong văn Nam Cao. Ngữ liệu 1: Thể hiện trạng thái buông xuôi, chấp nhận đánh đổi nhân phẩm để tồn tại ("Thai cần tiền"), đau đớn nhưng bất lực, cho thấy sự suy sụp hoàn toàn, chỉ còn là bản năng sinh tồn. Ngữ liệu 2: Là tiếng kêu phẫn uất, phản kháng, đòi quyền được sống như một con người bình thường của Chí Phèo, là đỉnh điểm của bi kịch khi khát khao lương thiện nhưng bị cả xã hội từ chối. Cho thấy sự đối lập gay gắt giữa bản chất và số phận.

Gợi ý câu nghị luận văn học

Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, đoạn trích.

Phân tích chủ đề của đoạn trích "Làm tổ".

Chủ đề: Đoạn trích "Làm tổ" của Nam Cao xoay quanh bi kịch của người nông dân bần cùng hóa, bị cái đói, cái nghèo, cái khổ đẩy vào bước đường cùng và sự bế tắc tuyệt vọng.

Hình ảnh "Làm tổ" trở nên trớ trêu và đầy mỉa mai, thay vì tổ ấm hạnh phúc, nó lại gắn liền với sự tan vỡ của mảnh vườn - tài sản duy nhất của nhân vật Thai.

Đoạn trích khắc họa sâu sắc tâm trạng nhân vật Thai, người vui mừng khi bão sắp đến vì nghĩ đó là cơ hội thoát nợ, thể hiện sự tan vỡ của mọi giá trị, ước mơ làm "tổ ấm" trở thành ảo mộng trước sự tàn khốc của cuộc đời.

Ý nghĩa của chủ đề: Giúp người đọc cảm nhận được bi kịch của người nông dân trước cách mạng, họ bị xã hội xô đẩy vào bước đường cùng, chọn cách buông xuôi, chấp nhận số phận cay đắng.

Qua đó, Nam Cao tố cáo hiện thực xã hội đương thời, đã tước đoạt quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc cơ bản nhất của con người. Đồng thời khơi gợi lòng trắc ẩn sâu sắc.

Đánh giá khái quát: Nghệ thuật kể chuyện độc đáo, sử dụng ngôn ngữ bình dị, chân thực, kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ người kể chuyện và nhân vật, cùng khả năng phân tích tâm lý nhân vật sâu sắc thông qua những tình huống éo le, bộc lộ chiều sâu hiện thực cuộc sống nông thôn Việt Nam trước Cách mạng, thể hiện tài năng và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc của tác giả.

Gợi ý câu nghị luận xã hội

Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.

Thân bài:

Giải thích: "Ghét bỏ" là thái độ không tôn trọng;"thiếu sót" là sự khiếm khuyết, chưa hoàn hảo; "biết ơn" chỉ thái độ trân trọng những gì ta nhận được. Câu nói của đại đức Hae Min khẳng định con người có thể học tập, sửa sai từ những gì thiếu sót để hoàn thiện bản thân mình hơn. "Hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót" là việc con người thay đổi mình trở nên tốt đẹp hơn từ những hạn chế, khiếm khuyết của bản thân.

Bàn luận:

Con người trong cuộc sống không ai là hoàn hảo, ai cũng có lúc mắc sai lầm, khuyết điểm, thiếu sót.

Hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót mang nhiều ý nghĩa tích cực: Có ý thức chủ động nhìn nhận lại chính mình; không ảo tưởng về mình, tự đúc rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị để sửa sai và nỗ lực học hỏi để hoàn thiện, giúp con người hạnh phúc, được mọi người yêu quý…

Mỗi người cần nhận thức được tầm quan trọng của việc hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót; nghiêm khắc và kỉ luật với chính mình, dám đối diện với thiếu sót của mình; nỗ lực học hỏi, trau dồi từng ngày để hoàn thiện bản thân….

Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác: Phê phán những người thích bao biện, đổ lỗi, không tự chịu trách nhiệm; những người nhìn nhận những thiếu sót với tâm lí tiêu cực.

Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận. Bài học cho bản thân.

Bình luận của bạn

Bình luận

icon icon