Công dân khuyến học

Xây dựng đập kiểm soát mực nước sông Hồng - giải pháp duy nhất bảo đảm an ninh nguồn nước đồng bằng Bắc Bộ

Xây dựng đập kiểm soát mực nước sông Hồng - giải pháp duy nhất bảo đảm an ninh nguồn nước đồng bằng Bắc Bộ

Ngô Hiển

Ngô Hiển

06:30 - 23/06/2026
Công dân & Khuyến học trên

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phê duyệt quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Hồng - Thái Bình đến năm 2030, tầm nhìn 2050. Lần đầu tiên, phương án chi tiết xây dựng các đập trên dòng chính sông Hồng đưa ra nhằm dâng mực nước mùa cạn, tạo nguồn cấp nước ổn định và cải thiện môi trường cho Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ.

Xây dựng đập kiểm soát mực nước sông Hồng - giải pháp duy nhất bảo đảm an ninh nguồn nước đồng bằng Bắc Bộ - Ảnh 1.

Cống Xuân Quan lấy nước sông Hồng cho Bắc Hưng Hải. Ảnh: VNE

Nguồn nước bổ sung được kỳ vọng phục vụ cấp nước sản xuất nông nghiệp, cải thiện môi trường nước trong các hệ thống thủy lợi, đồng thời góp phần "làm sống lại" một số dòng sông vùng đồng bằng sông Hồng như sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch và Ngũ Huyện Khê. 

Việc duy trì mực nước trên sông Hồng vào mùa cạn có thể hỗ trợ phát triển giao thông đường thủy, cảnh quan, du lịch và dịch vụ dọc tuyến sông.

Cụ thể, trong tờ trình số 210/TTr-BNNMT ngày 17/11/2025 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch Thủy lợi khu vực sông Hồng - Thái Bình giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2050 có ghi sẽ xây dựng đập dâng Xuân Quan trên sông Hồng và đập dâng Long Tửu trên sông Đuống. 

Sau đó sẽ theo dõi diễn biến và nghiên cứu xây dựng các công trình trên các nhánh sông thông ra biển để đảm bảo an ninh nguồn nước cho toàn vùng. 

Từ đó đến nay, chủ đề này thu hút sự quan tâm của giới khoa học, nhà quản lý và dư luận xã hội. 

Bên cạnh những ý kiến ủng hộ, vẫn còn không ít băn khoăn liên quan đến tác động của công trình đối với khả năng thoát lũ, môi trường, giao thông thủy cũng như quy hoạch phát triển đô thị ven sông. 

Xây dựng đập kiểm soát mực nước sông Hồng - giải pháp duy nhất bảo đảm an ninh nguồn nước đồng bằng Bắc Bộ - Ảnh 2.

GS.TS Trương Đình Dụ, nguyên Phó viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam.

Để làm rõ thêm vấn đề này, GS.TS Trương Đình Dụ, nguyên Phó viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Tạp chí Công dân và Khuyến học:

- Thưa GS.TS Trương Đình Dụ, ông là người đầu tiên đề xuất nghiên cứu vấn đề bảo đảm an ninh nguồn nước đồng bằng sông Hồng, xin ông chia sẻ thêm về nguyên nhân tại sao về mùa khô, cần phải dâng mực nước trên sông Hồng?

GS.TS Trương Đình Dụ: Năm 2004 tôi đề xuất lên Bộ Khoa học Công nghệ làm đề tài: "Nghiên cứu giải pháp tối ưu nâng cao mực nước sông Hồng", nhưng được yêu cầu phải có ý kiến của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). 

Tôi và Ks Trần Văn Thái đến gặp và nhận được ý kiến phản hồi: "Không cần nghiên cứu, ít năm nữa chúng tôi xây xong các Thủy điện: Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu, lúc đó nước phát điện về, các anh tha hồ tắm". Do vậy đề tài này không được thực hiện. 

Sau khi có thêm các thủy điện, sông Hồng vẫn cạn kiệt, Bộ Khoa học và Công nghệ mới đồng ý cho Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam triển khai đề tài cấp bộ trên, do PGS.TS Trần Đình Hòa làm chủ nhiệm. 

Sau còn có hai đề tài cấp Nhà nước về vấn đề này, đều do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam chủ trì: 

Đề tài thứ nhất là "Nghiên cứu ảnh hưởng khai thác cát đến chế độ dòng chảy, diễn biến lòng dẫn và đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ phục vụ công tác quản lý, quy hoạch khai thác cát hợp lý trên hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình" do PGS.TS Phạm Đình làm chủ nhiệm, thực hiện từ 2013-2015. 

Đề tài thứ 2 là: "Nghiên cứu tổng thể giải pháp công trình đập dâng nước nhằm ứng phó với tình trạng hạ thấp mực nước, đảm bảo an ninh nguồn nước vùng hạ du sông Hồng" thực hiện từ 2015-2018 cũng do PGS.TS Trần Đình Hòa làm chủ nhiệm.,

Các đề tài này xác định rõ là ràng rằng nguyên nhân làm mực nước mùa khô ở sông Hồng hạ thấp chưa từng có, là do đáy sông Hồng bị hạ thấp quá lớn, kéo mực nước hạ thấp theo. 

Mà nguyên nhân làm đáy sông Hồng bị hạ thấp là do khai thác cát và hiện tượng xói nước trong. Hiện tượng xói nước trong xảy ra do phía thượng nguồn xây các hồ chứa, giữ lại phần lớn lượng phù sa, làm cho dòng sông phía sau bị xói. 

Số liệu nghiên cứu của PGS.TS Phạm Đình cho biết: "Ở sông Hồng phía trên Hà Nội, thì xói nước trong và khai thác cát đóng vai trò ngang nhau; Còn phần sông Hồng sau Hà Nội thì xói sâu chủ yếu do khai thác cát. 

Khi xây dựng đập Hòa Bình, các kết quả tính dự báo xói nước trong ở Hà Nội sau 50 năm là kết thúc với trị số là 0,5m; nhưng, mới một nửa thời gian, kể từ khi xây đập Hòa Bình, ở Hà Nội đã xói sâu 1,67m".

Theo số liệu trạm đo thủy văn Hà Nội: những năm 1965 sông Hồng ở Hà Nội, chỉ cần lưu lượng khoảng 500m3/s đã có mực nước 2-2,4m, bây giờ muốn có mực nước ấy phải có lưu lượng 2000 m3/s.

Khi đáy sông Hồng còn nguyên vẹn, chưa bị hạ thấp, mực nước sông Hồng cao hơn mặt đất tự nhiên của nhiều cánh đồng trong lưu vực. Do vậy để lấy nước vào các cánh đồng, ngành thủy lợi chỉ cần mở cửa cống qua đê là nước tự chảy vào ruộng. Còn cục bộ có những cánh đồng cao hơn mực nước sông Hồng thì xây trạm bơm và lấy nước vào bể hút để bơm lên ruộng.

Lấy ví dụ cống lấy nước Xuân Quan cấp nước cho hệ thống Đại thủy nông Bắc Hưng Hải, được thiết kế với ngưỡng cống ở cao trình - 1m, tương ứng với mực nước sông Hồng ở cao trình +1,85m thì lấy được lưu lượng 75m3/gy. 

Nhưng hiện nay mùa khô, mực nước ở đây chỉ khoảng cao trình +0,2m, nên chỉ lấy được lưu lượng 30m3/gy, gây hạn cho cả hệ thống đại thủy nông quan trọng này. 

Còn ở cống Liên Mạc, lấy nước vào sông Nhuệ được thiết kế với ngưỡng lấy nước ở cao trình +1m, ứng với mực nước sông Hồng có cao trình +3,7m, nhưng đáng buồn là ở đây mực nước sông Hồng có lúc thấp hơn ngưỡng cống; nước chảy ngược róc rách từ sông Nhuệ ra sông Hồng. 

Tương tự như vậy, các cống và trạm bơm thủy lợi không lấy được hoặc lấy không đủ nước thì dân gọi công trình thủy lợi bị treo.

Điều đáng nói là đồng bằng sông Hồng không thiếu nguồn nước, nhờ có nước phát điện của các nhà máy thủy điện, khá dồi dào, nhưng chúng ta lại gặp nạn thiếu nước do mực nước sông Hồng bị hạ thấp, làm mất tác dụng của các công trình thủy lợi đã có. 

Đây là điều gây ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế xã hội của vùng đồng bằng Bắc Bộ: Trước hết là gây thiệt hại đến 650.000 ha vụ lúa đông xuân, thứ đến cấp nước cho sản xuất công nghiệp và dân sinh bị ảnh hưởng nặng nề.

Còn môi trường sinh thái bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng: nhiều làng quê và phố phường chịu cảnh khô hạn, những vũng nước đen tù đọng, bốc mùi ở các ở đầm ao, sông kênh đặc biệt ở Hà Nội mùa hè mất cảnh đẹp thành phố ven sông, vì lộ ra nhiều bãi cát bẩn ở ven đô. 

Đó là lý do mùa khô phải dâng mực nước sông Hồng để phục vụ tốt cho sản xuất và đời sống cho cả vùng đồng bằng này.

Xây dựng đập kiểm soát mực nước sông Hồng - giải pháp duy nhất bảo đảm an ninh nguồn nước đồng bằng Bắc Bộ - Ảnh 3.

Vị trí xây dựng đập dâng Xuân Quan trên sông Hồng và đập dâng Long Tửu trên sông Đuống.

- Vậy xin hỏi Giáo sư, hiện có giải pháp xả tăng cường hằng năm, đã thực hiện hơn 20 năm, vì sao nay lại chọn giải pháp đập dâng trên sông Hồng?

GS.TS Trương Đình Dụ: Những mùa khô đầu tiên xảy ra hạn hán, do mực nước sông Hồng bị hạ thấp, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã nhanh chóng tìm giải pháp ứng cứu. 

Ban đầu nhiều người nghĩ: cứ việc xả nước từ các hồ thủy điện xuống, cho mực nước dâng lên để phục vụ sản xuất và môi trường. Đó là giải pháp rất đơn giản. 

Nhưng sau khi tính toán thấy rằng: Dung tích các hồ thượng nguồn chỉ khoảng hơn 30 tỷ m3, nếu xả liên tục để dâng mực nước sông Hồng, thì sau 3 đến 4 tháng các hồ không còn nước để phát điện; Nên tuyệt đối không thể thực hiện giải pháp xả nước liên tục cả mùa khô.

Do vậy hai bên thống nhất tạm chọn giải pháp xả tăng cường ba đợt, mỗi đợt khoảng 7 ngày vào dịp đổ ải, phục vụ gieo cấy vụ đông xuân. Đây là giải pháp cấp cứu tạm thời, được nhà nước cho thực hiện hơn 20 năm nay. Giải pháp này có tính cấp cứu, nhà nước chưa phải đầu tư, nhưng phục vụ được gieo cấy vụ đông xuân; nhưng giải pháp này có những nhược điểm lớn là: không cứu được hạn hán cho cả vụ đông xuân; không giải quyết được ô nhiễm môi trường sinh thái cả lưu vực sông Hồng và gây lãng phí mỗi năm khoảng gần 5 tỷ m3 nước, nên phải thay thế càng sớm càng tốt, chậm năm nào là thiệt hại năm đó.

- Với tư cách chuyên gia về công trình kiểm soát nguồn nước ở các sông, xin Giáo sư chia sẻ có những kiểu công trình nào có thể ứng dụng để dâng mực nước sông Hồng mà không ảnh hưởng thoát lũ và theo Giáo sư nên chọn kiểu công trình nào là hiệu quả nhất.

GS.TS Trương Đình Dụ: Một điều đáng chú ý là thoát lũ sông Hồng thuộc phạm trù an ninh quốc gia, nên khi chọn giải pháp dâng mực nước mùa khô, phải đảm bảo tuyệt đối không được mảy may ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ mùa mưa của sông Hồng. 

Vì vậy tên gọi đập dâng sông Hồng nghe phản cảm, nếu gọi đập kiểm soát mực nước sông Hồng thì hợp lý hơn. Để kiểm soát mực nước sông Hồng: mùa khô dâng lên; mùa mưa thoát lũ tự nhiên, có thể làm các giải pháp công trình sau:

- Giải pháp thứ nhất: là làm đập ngầm cục bộ, nâng đáy sông, lên ngang cao trình đáy sông khi chưa bị hạ thấp, ở những vị trí sau cửa lấy nước vào cống, trạm bơm. Đây là giải pháp do các chuyên gia Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước đề xuất, giải pháp này có ưu điểm là đơn giản, ít tốn kém, nhưng có nhược điểm là gây diễn biến dòng chảy sau các đập ngầm và không tận dụng được khả năng thoát lũ khi đáy sông hạ thấp.

- Giải pháp thứ 2 là: Đập chìm bằng hình hộp chữ nhật, nằm dưới đáy sông, trên mặt hộp, lắp cửa van clape nằm ngang cao trình đáy sông, trong mùa khô kéo cửa van lên để dâng mực nước, mùa mưa hạ cửa van xuống sát mặt hộp, để thoát lũ tự nhiên, cửa van clape được điều khiển bằng xi lanh thủy lực nằm dưới cửa van. Đây là loại công trình kiểu mới, có khả năng dâng nước vào mùa khô và tháo lũ về mùa mưa.

- Giải pháp thứ 3 là làm đập dâng bằng hai cánh cửa van kiểu dàn có thể là hình thoi, hoặc bán nguyệt, rộng tới 200-300m. Phần đầu tựa vào nhau, với góc khoảng 120 độ; phần cuối gắn với các ổ quay đặt ở trụ chịu lực bằng bê tông cốt thép cắm ở sát bờ. 

Phía dưới mặt hạ lưu các cửa van tựa vào tường ngầm dưới đáy sông. Về mùa khô cửa van đóng lại để điều tiết mực nước, về mùa mưa mở cửa nép vào hai bờ để tháo lũ. Đóng mở bằng máy kéo thủy lực. Đây là loại công trình kiểu mới, đạt yêu cầu dâng nước mùa khô và thoát lũ mùa mưa.

- Giải pháp 4 là đập tàu thủy, được lắp đặt vào đầu mùa khô để điều tiết mực nước theo yêu cầu sản xuất và môi trường, hết mùa khô lại được lai dắt về nơi cất giữ, trả lại lòng sông tự nhiên cho thoát lũ.

- Giải pháp thứ 5 là công nghệ đập trụ đỡ do viện khoa học Thủy lợi sáng tao, với nguyên lý mới và thi công hiện đại, hiệu quả cao, đã áp dụng xây dựng hàng chục công trình kiểm soát nguồn nước ở các sông lớn. Đây là kiểu cống điều tiết rất phù hợp cho yêu cầu dâng nước mùa khô và tháo lũ mùa mưa, ở sông Hồng, đặc biệt dễ kết hợp với xây dựng các cầu giao thông lớn.

Kết luận về chọn các giải pháp thấy rằng: Giải pháp 1 tuy dễ thực hiện, nhưng không an toàn cho dòng sông, không nên chọn. Các giải pháp 2, 3, 4 về lý thuyết khá tin cậy, đều có khả năng dâng mực nước vào mùa khô và thoát lũ tự nhiên vào mùa mưa cho sông Hồng; tuy những giải pháp này chưa có kinh nghiệm ứng dụng thực tế, nhưng ở những nơi không kết hợp với cầu giao thông, vẫn có thể ứng dụng.

Còn giải pháp 5 là đập trụ đỡ, là kiểu công trình kiểm soát mực nước hiện đại, đã có kinh nghiệm ứng dụng ở các sông lớn, nên ứng dụng cho công trình kiểm soát mực nước của sông Hồng sẽ rất thuận lợi, nhất là dễ kết hợp xây dựng cầu giao thông lớn.

Ngoài các đập kiểm soát mực nước trên sông Hồng ở vùng Hà Nội và phía hạ lưu Hà Nội, như đã nói trên, vừa qua, PGS. TS Khổng Doãn Điền, Chủ tịch Hội Cơ học Hà Nội đã kiến nghị: Nên ủng hộ phương án làm đập điều tiết mực nước Thuận Mỹ trên sông Đà để có thể lấy được khoảng hơn 60m3/gy vào cống Thuận Mỹ, cung cấp nước cho phía Tây của Hà Nội, hỗ trợ cho các công trình kiểm soát mực nước ở phía dưới. Theo tôi đây cũng là phương án có hiệu quả trong việc cấp nước bổ sung vào mùa khô cho khu vực phía Tây của Hà Nội, nơi có địa hình cao.

- Sau khi xây dựng đập dâng Xuân Quan và Long Tửu, việc cấp nước sẽ ra sao thưa Giáo sư?

GS.TS Trương Đình Dụ: Câu hỏi này làm tôi nhớ tới cuộc họp về xây dựng đập điều tiết Xuân Quan do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đào Xuân Học chủ trì, các đại biểu ở các tỉnh cũ Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình cũng đặt câu hỏi như thế.

Trong đề tài cấp Bộ, năm 2007-2009, chúng tôi đề ra xây dựng các đập dâng Xuân Quan - Hà Nội, Long Tửu - Bắc Ninh, Yên Lệnh - Hưng Yên, Cổ Lễ - Nam Định, và công trình kiểm soát nguồn nước ở cửa biển Ba Lạt. 

Sau đó, trong đề tài cấp Nhà nước, năm 2015-2018, lại thay đổi xây dựng đến 10 công trình: (1) Đập Ngã Ba Thao Đà, (2) Đập dâng Xuân Quan (sông Hồng), (3) Đập dâng Long Tửu (sông Đuống), (4) Đập kiểm soát nguồn nước Ba Lạt,  (5) Đập kiểm soát nguồn nước sông Ninh Cơ, (6) Đập kiểm soát nguồn nước sông Đáy, (7) Đập kiểm soát nguồn nước sông Trà Lý, (8) Đập kiểm soát nguồn nước Hồng Quỳnh (sông Hóa), (9) Đập kiểm soát nguồn nước sông Đò Hàn, (10) Đập kiểm soát nguồn nước sông Mới (sông Luộc).

Trong đề tài cũng như quy hoạch phải đặt ưu tiên xây dựng công trình đập điều tiết Xuân Quan và Long Tửu trước, vì đó là hai đầu mối cấp nước tưới cho phần lớn diện tích vùng hạ du sông Hồng. 

Khi hai đập điều tiết này xây xong, thì hai cống lấy nước Xuân Quan và Long Tửu được cấp nước đầy đủ suốt cả trong mùa khô. Lúc đó sau các đập điều tiết trên, mực nước sông Hồng và sông Đuống vẫn thấp, vì chưa có đập điều tiết, nên ngoài lưu lượng xả để duy trì dòng chảy, ở những thời điểm cần thiêt, các thủy điện thượng nguồn phải xả cưỡng bức thêm lưu lượng để các cống và trạm bơm ở phía sau vẫn lấy được nước. 

Dù có xả thêm, nhưng trong trường hợp này, sơ bộ tính các nhà máy thủy điện, ít nhất cũng tiết kiệm được khoảng 3 tỷ m3 nước, chỉ còn lãng phí mất khoảng 2 tỷ m3 nước.

Còn khi xây dựng xong tất cả các đập điều tiết mực nước, thì lưu lượng phát điện bình thường của các nhà máy thủy điện, khoảng 800m3/s cũng đủ phục vụ sản xuất và môi trường cho đồng bằng sông Hồng. 

Lúc đó các nhà máy thủy điện không phải lãng phí mét khối nước nào. Điều mừng nhất là đồng bằng sông Hồng, vùng quan trọng hàng đầu của nước ta được đảm bảo an ninh nguồn nước bởi các nhà máy thủy điện.

Xin cảm ơn Giáo sư!

Bình luận của bạn

Bình luận

icon icon