Công dân khuyến học

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Ngọn đuốc soi đường cho con đường bình đẳng, đi lên của phụ nữ Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Ngọn đuốc soi đường cho con đường bình đẳng, đi lên của phụ nữ Việt Nam

Ngô Văn Hiển

Ngô Văn Hiển

17:16 - 19/10/2026
Công dân & Khuyến học trên

Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định, phụ nữ không chỉ là đối tượng được bảo vệ, chăm lo mà còn là chủ thể tích cực, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng và công cuộc xây dựng xã hội mới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Ngọn đuốc soi đường cho con đường bình đẳng, đi lên của phụ nữ Việt Nam - Ảnh 1.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bà con nông dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang. Ảnh tư liệu TTXVN

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. Người không chỉ dành tình cảm yêu thương, sự quan tâm đặc biệt đối với phụ nữ mà còn nhìn nhận vấn đề bình đẳng nam nữ một cách toàn diện, gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Nhìn lại lịch sử, có thể thấy những chuyển biến trong địa vị, vai trò của phụ nữ Việt Nam gắn liền với những bước ngoặt lớn của đất nước. Từ thân phận bị áp bức, bóc lột dưới chế độ thực dân, phong kiến, phụ nữ từng bước vươn lên, tham gia ngày càng sâu rộng vào đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. 

Trong hành trình ấy, tư tưởng và sự chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng quan trọng, mở ra con đường để phụ nữ Việt Nam hướng tới bình đẳng, tự do, hạnh phúc và phát triển toàn diện.


1. Độc lập dân tộc, tự do của nhân dân và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là nền tảng giải phóng phụ nữ

Đối với Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, nỗi đau của người phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị thực dân không phải là vấn đề riêng của một giới mà là biểu hiện của tình trạng mất nước, mất quyền làm người và sự bất công của cả một chế độ xã hội. 

Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã tận mắt chứng kiến và lên án những hành động bạo ngược của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa, trong đó phụ nữ là một trong những đối tượng chịu nhiều tổn thương nhất.

Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã phơi bày những tội ác của chủ nghĩa thực dân, đồng thời chỉ rõ tình cảnh khốn cùng của phụ nữ bản xứ. Người viết: "Chưa có bao giờ, ở nước nào, một thời đại nào người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác đến thế". Đó không chỉ là lời tố cáo một chế độ áp bức mà còn thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của Người trước những đau khổ, tủi nhục mà phụ nữ phải gánh chịu.

Dưới chế độ thực dân, phong kiến, phụ nữ Việt Nam phải chịu sự áp bức trên nhiều phương diện. Trong lao động, họ thường phải làm việc nặng nhọc nhưng hưởng tiền công thấp hơn nam giới, thiếu những điều kiện bảo vệ sức khỏe và quyền lợi khi sinh con. Ở nông thôn, phụ nữ cùng chồng con gánh chịu sưu thuế, đói nghèo và những bất công do chế độ bóc lột gây ra. Trong đời sống gia đình, những quan niệm trọng nam khinh nữ, các hủ tục lạc hậu và sự bất bình đẳng trong hôn nhân tiếp tục hạn chế quyền tự quyết, cơ hội học tập và khả năng phát triển của họ.

Đáng chú ý, sự áp bức dân tộc và sự bất bình đẳng giới không tồn tại tách biệt mà tác động qua lại, làm trầm trọng thêm những thiệt thòi của phụ nữ. Chính sách ngu dân, hạn chế cơ hội tiếp cận giáo dục và ngăn cản phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội khiến nhiều người không có điều kiện nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình. Trong hoàn cảnh ấy, những quan niệm cổ hủ về vai trò của phụ nữ càng trở thành công cụ duy trì trật tự bất công.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Ngọn đuốc soi đường cho con đường bình đẳng, đi lên của phụ nữ Việt Nam - Ảnh 2.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các đại biểu nữ dự Đại hội Thi đua Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước toàn miền Bắc, tháng 1/1967. Ảnh tư liệu TTXVN

Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh nhận thức rằng không thể giải phóng phụ nữ một cách thực chất nếu không thay đổi những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội đã tạo ra sự áp bức. Bình đẳng giới không thể chỉ dừng lại ở việc thay đổi nhận thức hay khuyên bảo con người từ bỏ những tập quán lạc hậu, mà cần có sự chuyển biến căn bản trong tổ chức xã hội, trong quan hệ lao động, trong pháp luật và trong quyền làm chủ của nhân dân.

Vì vậy, Người gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chính quyền của nhân dân và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là điều kiện để nhân dân thoát khỏi ách thống trị; tự do, dân chủ là cơ sở để mỗi người được thực hiện các quyền cơ bản; còn sự phát triển của đất nước tạo ra những điều kiện vật chất và tinh thần để phụ nữ được học tập, lao động, tham gia quản lý xã hội và phát huy năng lực.

Tư tưởng ấy thống nhất với chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Đối với phụ nữ, độc lập của đất nước không chỉ có ý nghĩa thoát khỏi sự thống trị của ngoại bang mà còn mở ra khả năng giải phóng khỏi những ràng buộc bất công trong đời sống xã hội và gia đình.

Có thể thấy, điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đặt vấn đề giải phóng phụ nữ trong tổng thể sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Đây không chỉ là lựa chọn mang ý nghĩa chính trị mà còn là cách tiếp cận toàn diện, xuất phát từ việc nhận diện những nguyên nhân sâu xa của bất bình đẳng. Khi đất nước giành được độc lập, quyền làm chủ của nhân dân được xác lập và các điều kiện phát triển được mở rộng, phụ nữ mới có cơ sở để từng bước khẳng định vị trí, quyền lợi và giá trị của mình.


2. Phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng

Một nội dung nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm coi giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu của cách mạng, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Người không nhìn nhận phụ nữ như lực lượng đứng ngoài tiến trình lịch sử, mà khẳng định họ là bộ phận quan trọng của nhân dân, có khả năng đóng góp trực tiếp vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước.

Người cũng chỉ rõ đây là một cuộc cách mạng khó khăn, bởi những định kiến giới đã tồn tại lâu dài, ăn sâu vào nếp nghĩ và thói quen của nhiều thế hệ. Trong tác phẩm Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ, tư tưởng của Người được khái quát qua nhận định: "Đó là một cuộc cách mạng to và khó vì không thể dùng vũ lực mà đấu tranh...". Theo đó, sức mạnh của cuộc cách mạng này phải được tạo nên từ sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa và pháp luật, từ sự chuyển biến trong nhận thức của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và toàn xã hội.

Cách tiếp cận ấy cho thấy Hồ Chí Minh không xem bình đẳng giới là nhiệm vụ có thể hoàn thành bằng những khẩu hiệu đơn thuần. Muốn xóa bỏ sự phân biệt đối xử, phải thay đổi cả nhận thức lẫn điều kiện sống; vừa xây dựng chính sách phù hợp, vừa nâng cao trình độ dân trí, phát triển kinh tế và tạo cơ hội để phụ nữ tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội. Sự tiến bộ của phụ nữ vì thế gắn liền với sự tiến bộ chung của đất nước.

Phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh".
Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đặc biệt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò chủ động của chính phụ nữ trong quá trình tự giải phóng. Đây là quan điểm thể hiện rõ tinh thần tôn trọng năng lực, ý chí và quyền làm chủ của phụ nữ.

Theo Người, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước là cần thiết, nhưng không thể thay thế nỗ lực vươn lên của mỗi người phụ nữ. Muốn thực hiện quyền bình đẳng, chị em phải nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ, chủ động học tập, rèn luyện đạo đức, phát triển chuyên môn, làm chủ khoa học kỹ thuật và tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Đồng thời, cần khắc phục tâm lý tự ti, mặc cảm, bảo thủ hoặc trông chờ, ỷ lại; phát huy tinh thần tự lực, tự cường để khẳng định năng lực bằng kết quả lao động và những đóng góp thực tế.

Tuy nhiên, nhấn mạnh sự chủ động của phụ nữ không có nghĩa là chuyển toàn bộ trách nhiệm giải phóng phụ nữ sang cho họ. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu đồng thời đối với cá nhân, gia đình, tổ chức và toàn xã hội. Phụ nữ cần nỗ lực vươn lên, trong khi Nhà nước phải xây dựng chính sách, pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng; các tổ chức xã hội cần tạo điều kiện để chị em học tập, làm việc, tham gia quản lý; gia đình cần chia sẻ trách nhiệm và tôn trọng quyền tự quyết của mỗi thành viên.

Hồ Chí Minh cũng nhìn nhận sự tiến bộ của phụ nữ như một thước đo quan trọng đối với trình độ phát triển của xã hội. Tư tưởng này gắn với nhận định của C. Mác rằng: "Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ thế nào". Một xã hội thực sự văn minh không thể chỉ được đánh giá bằng sự gia tăng của cải vật chất hay tốc độ phát triển kinh tế, mà còn phải được nhìn nhận qua cách xã hội đối xử với phụ nữ, mức độ bảo đảm quyền bình đẳng và khả năng tạo cơ hội để mọi người phát triển.

Khi phụ nữ được học tập, lao động, sáng tạo và tham gia vào quá trình ra quyết định, nguồn lực của xã hội được phát huy đầy đủ hơn. Ngược lại, nếu phụ nữ bị hạn chế cơ hội, năng lực của một bộ phận lớn dân cư sẽ không được khai thác, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển chung. Bởi vậy, giải phóng phụ nữ vừa thể hiện mục tiêu nhân văn của cách mạng, vừa góp phần tạo ra động lực cho phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội.


3. Chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc trong tư tưởng và cách ứng xử của Hồ Chí Minh đối với phụ nữ

Tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ bắt nguồn từ lòng yêu nước, thương dân và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc. Người luôn trăn trở trước cảnh nhân dân bị áp bức, những gia đình nghèo khó, những người mẹ mất con, những người vợ chịu cảnh chia lìa và những phụ nữ phải gánh chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. Đối với Người, đấu tranh giành độc lập dân tộc cuối cùng phải hướng tới mục tiêu đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, trong đó phụ nữ có vị trí đặc biệt quan trọng.

Từ những năm đầu hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện cách nhìn tiến bộ về quyền của phụ nữ. Trong bối cảnh nhiều xã hội còn chịu ảnh hưởng nặng nề của những quan niệm truyền thống đề cao nam giới, Người sớm nhận ra rằng phụ nữ phải được thừa nhận là những con người có đầy đủ phẩm giá, năng lực và quyền lợi. Sự giải phóng phụ nữ vì thế không phải là sự ban phát lòng tốt của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào, mà là yêu cầu chính đáng của tiến trình phát triển xã hội.

Tư tưởng ấy được hình thành trên cơ sở tiếp thu những giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại, đồng thời vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam. Hồ Chí Minh đề cao vai trò của quần chúng nhân dân với tư cách chủ thể sáng tạo lịch sử, trong đó phụ nữ vừa là lực lượng lao động quan trọng, vừa là người trực tiếp tham gia đấu tranh, xây dựng và gìn giữ những giá trị của gia đình, cộng đồng và dân tộc.

Điều đáng chú ý là tình thương yêu của Người luôn gắn liền với sự tôn trọng phẩm giá. Hồ Chí Minh không nhìn phụ nữ bằng thái độ thương hại hay coi họ là những người yếu thế cần được bảo vệ một cách thụ động. Người trân trọng những đóng góp của phụ nữ, biểu dương các nữ anh hùng, chiến sĩ, những người mẹ, người vợ và đông đảo phụ nữ bình thường đang âm thầm lao động, sản xuất, nuôi dạy con cái, tham gia kháng chiến và xây dựng đất nước.

Đối với những phụ nữ có chồng, con hy sinh vì Tổ quốc, Người luôn thể hiện sự biết ơn và kính trọng. Sự tri ân ấy không chỉ là tình cảm cá nhân mà còn nhắc nhở toàn xã hội về trách nhiệm đối với những người đã chịu nhiều mất mát vì độc lập, tự do của dân tộc. Qua đó, tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh được thể hiện bằng sự quan tâm cụ thể đến con người, nhất là những người phải chịu nhiều hy sinh và thiệt thòi.

Trong cách ứng xử, Người kết hợp nguyên tắc kiên định về bình đẳng với phương pháp vận động mềm dẻo, giản dị và thuyết phục. Hồ Chí Minh hiểu rằng những định kiến giới đã tồn tại qua nhiều thế hệ không thể bị xóa bỏ chỉ bằng mệnh lệnh hành chính. Muốn thay đổi nhận thức xã hội, cần giải thích rõ ràng, nêu gương bằng hành động, phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc và từng bước khắc phục những tập quán không còn phù hợp.

Sự mềm dẻo trong phương pháp không làm giảm tính triệt để của mục tiêu. Trái lại, đó là cách đưa những nguyên tắc tiến bộ vào đời sống, giúp người dân hiểu được ý nghĩa của bình đẳng nam nữ và tự giác thực hiện. Người vừa yêu cầu phụ nữ tích cực vươn lên, vừa nhắc nhở xã hội phải tôn trọng, tạo điều kiện và bảo đảm quyền lợi cho phụ nữ. Sự kết hợp giữa lý tưởng cách mạng, tình thương yêu con người và phương pháp vận động gần gũi đã tạo nên nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ.

Giá trị nhân đạo trong tư tưởng của Người còn thể hiện ở quan niệm về sự phát triển toàn diện. Phụ nữ không chỉ cần được bảo đảm cơm ăn, áo mặc và điều kiện sinh sống, mà còn cần có cơ hội học tập, phát triển trí tuệ, bồi dưỡng năng lực, xây dựng đời sống tinh thần phong phú và tham gia vào những lĩnh vực phù hợp với khả năng, nguyện vọng của mình. Đó là sự giải phóng cả về điều kiện vật chất, địa vị xã hội lẫn đời sống tinh thần, giúp phụ nữ có thể tự quyết định tương lai và khẳng định giá trị bản thân.


4. Phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới trong giai đoạn phát triển mới

Nhìn lại những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể thấy con đường giải phóng phụ nữ không kết thúc khi đất nước giành được độc lập hay khi quyền bình đẳng được ghi nhận trong pháp luật. Đó là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự hoàn thiện liên tục về thể chế, chính sách, điều kiện kinh tế và nhận thức xã hội.

Ngày nay, phụ nữ Việt Nam đã có nhiều cơ hội tham gia vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa và quản lý xã hội. Những đóng góp của phụ nữ ngày càng được khẳng định trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, quá trình phát triển vẫn đặt ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết như định kiến giới, chênh lệch cơ hội việc làm, sự mất cân đối trong phân chia công việc gia đình, nguy cơ bạo lực trên cơ sở giới và những thách thức mới từ chuyển đổi số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo.

Trong bối cảnh ấy, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải chuyển những nguyên tắc bình đẳng thành các điều kiện phát triển cụ thể. Chính sách cần bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục, việc làm, đào tạo nghề, khoa học công nghệ và các nguồn lực kinh tế cho phụ nữ. Môi trường làm việc cần tôn trọng năng lực, bảo vệ quyền lợi chính đáng và tạo cơ hội thăng tiến công bằng. Trong gia đình, việc chăm sóc con cái, người cao tuổi và tổ chức đời sống cần được chia sẻ trên tinh thần bình đẳng, thay vì mặc nhiên coi đó là trách nhiệm riêng của phụ nữ.

Cùng với trách nhiệm của Nhà nước và xã hội, bản thân phụ nữ cần tiếp tục phát huy tinh thần tự chủ, chủ động học tập suốt đời, nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng số và khả năng thích ứng với những biến đổi của thị trường lao động. Sự bình đẳng bền vững chỉ có thể được củng cố khi quyền lợi được bảo đảm bằng thể chế, cơ hội được mở rộng trong thực tế và năng lực của phụ nữ được phát huy đầy đủ.

Đồng thời, cần nhận thức rằng bình đẳng giới không phải là sự đối lập giữa nam và nữ, càng không phải là sự phủ nhận những đặc điểm, nhu cầu riêng của mỗi giới. Mục tiêu là xây dựng một xã hội trong đó mọi người đều được tôn trọng, có cơ hội phát triển, được chia sẻ trách nhiệm và được đánh giá dựa trên phẩm chất, năng lực, đóng góp của mình.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ vì vậy vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc. Con đường mà Người chỉ dẫn là con đường kết hợp độc lập dân tộc với tiến bộ xã hội, kết hợp trách nhiệm của Nhà nước với sự chủ động của mỗi cá nhân, kết hợp lòng nhân ái với việc bảo đảm quyền bình đẳng bằng những cơ chế và hành động thiết thực.

Phụ nữ Việt Nam hôm nay có quyền tự hào về những thành tựu đã đạt được, đồng thời cần tiếp tục nỗ lực để vượt qua những rào cản còn tồn tại. Việc kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện lòng biết ơn đối với Người mà còn là yêu cầu của sự phát triển đất nước trong thời đại mới. Một Việt Nam phát triển bền vững, văn minh và nhân văn phải là một Việt Nam biết trân trọng, bảo vệ và phát huy đầy đủ năng lực của phụ nữ.

Bình luận của bạn

Bình luận

icon icon