Công dân khuyến học

Tăng trưởng 2 con số: Chuyển sức mạnh đại đoàn kết thành nguồn lực phát triển

Tăng trưởng 2 con số: Chuyển sức mạnh đại đoàn kết thành nguồn lực phát triển

TS. Nguyễn Minh Chung

TS. Nguyễn Minh Chung

18:05 - 29/09/2026
Công dân & Khuyến học trên

Tăng trưởng hai con số không thể chỉ là công việc của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Đó phải trở thành mục tiêu chung, khát vọng chung và hành động chung của toàn xã hội.

Tăng trưởng 2 con số: Chuyển sức mạnh đại đoàn kết thành nguồn lực phát triển - Ảnh 1.

Bài viết của TS. Nguyễn Minh Chung, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu không chỉ đổi mới mạnh mẽ về thể chế, khoa học, công nghệ, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mà còn phải huy động được sức mạnh của toàn xã hội. 

Thực tiễn những năm qua, từ xóa nhà tạm, nhà dột nát, cứu trợ đồng bào bị thiên tai, chăm lo người nghèo đến tham gia xây dựng chính sách, giám sát, phản biện xã hội đã cho thấy khả năng tập hợp, kết nối và tổ chức nguồn lực rất lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. 

Vấn đề đặt ra trong giai đoạn mới là phải chuyển sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thành một nguồn lực trực tiếp cho phát triển đất nước.

Tăng trưởng hai con số không chỉ là bài toán kinh tế

Bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu tăng trưởng hai con số thể hiện khát vọng và quyết tâm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, tạo nền tảng vững chắc để thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và năm 2045.

Đây trước hết là một bài toán kinh tế. Nhưng nếu chỉ nhìn dưới góc độ kinh tế thì chưa đủ.

Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, Việt Nam không thể chủ yếu dựa vào gia tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ hoặc mở rộng quy mô sản xuất. Động lực tăng trưởng phải chuyển mạnh sang năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao, thể chế hiện đại và khả năng phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

Nhưng phía sau tất cả những yếu tố ấy vẫn là con người.

Đằng sau mỗi điểm phần trăm tăng trưởng là hàng triệu quyết định đầu tư, sản xuất, kinh doanh, lao động, tiêu dùng, học tập và sáng tạo của người dân, doanh nghiệp và các chủ thể xã hội. 

Một chủ trương dù đúng cũng chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi được Nhân dân hiểu, đồng tình và thực hiện. Một chính sách tốt chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi doanh nghiệp tin tưởng, người dân hưởng ứng và bộ máy thực thi có trách nhiệm.

Bởi vậy, tăng trưởng hai con số không thể chỉ là công việc của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Đó phải trở thành mục tiêu chung, khát vọng chung và hành động chung của toàn xã hội.

Chính ở điểm này, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng cần được nhận thức đầy đủ hơn.

Mặt trận không trực tiếp điều hành nền kinh tế, không thay Nhà nước xây dựng chính sách kinh tế và cũng không thay doanh nghiệp tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nhưng Mặt trận có một lợi thế mà không một chủ thể nào khác có thể thay thế: tập hợp rộng rãi các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài; kết nối Đảng, Nhà nước với Nhân dân; tổ chức các phong trào xã hội; phát huy dân chủ; giám sát, phản biện xã hội và tạo dựng đồng thuận.

Nếu những lợi thế đó được phát huy đúng hướng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc có thể trở thành một nguồn lực rất lớn cho tăng trưởng.

Thực tiễn đã chứng minh khả năng huy động những nguồn lực rất lớn trong Nhân dân

Điều này không phải là một nhận định mang tính lý thuyết. Thực tiễn hoạt động của Mặt trận những năm qua đã cung cấp nhiều minh chứng sinh động.

Một minh chứng nổi bật là Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát. Với sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và sự chung tay của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đến tháng 8/2025, cả nước đã cơ bản hoàn thành xóa 334.234 căn nhà tạm, nhà dột nát, với tổng kinh phí thực hiện gần 50.000 tỷ đồng, về đích sớm 5 năm 4 tháng so với mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 42-NQ/TW.

Ý nghĩa của con số hơn 334 nghìn căn nhà không chỉ nằm ở giá trị vật chất.

Phía sau mỗi căn nhà là một gia đình được ổn định chỗ ở, một người nghèo có thêm điều kiện làm ăn, trẻ em có môi trường học tập tốt hơn và một cộng đồng được củng cố niềm tin.

Quan trọng hơn, chương trình cho thấy khi có mục tiêu đúng, cách làm phù hợp, công khai và tạo được sự đồng thuận thì nguồn lực trong xã hội có thể được huy động rất lớn.

Một minh chứng rõ nét khác là công tác cứu trợ thiên tai. Sau bão số 3 (Yagi) năm 2024, hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước đã chung tay ủng hộ đồng bào vùng bị thiệt hại. Kết thúc đợt tiếp nhận ngày 8/12/2024, Ban Vận động Cứu trợ Trung ương đã tiếp nhận trên 2.573 tỷ đồng. Tiếp đó, trước các đợt bão, lũ năm 2025, tính đến ngày 31/1/2026, toàn hệ thống MTTQ Việt Nam các cấp đã vận động được trên 4.150 tỷ đồng; đến ngày 7/2/2026 đã phân bổ trên 3.472 tỷ đồng hỗ trợ đồng bào khắc phục hậu quả thiên tai.

Những con số ấy cho thấy một nguồn lực rất đáng quý của đất nước: vốn xã hội, lòng nhân ái và niềm tin cộng đồng.

Nguồn lực đó không được hình thành bằng mệnh lệnh hành chính. Nó được tạo nên từ niềm tin, truyền thống tương thân tương ái và khả năng kết nối của hệ thống Mặt trận Tổ quốc các cấp.

Công tác giảm nghèo cũng cho thấy điều tương tự. Chỉ trong giai đoạn từ năm 2021 đến tháng 9/2023, Mặt trận các cấp đã vận động Quỹ "Vì người nghèo" và các chương trình an sinh xã hội trên 18.049 tỷ đồng; hỗ trợ xây mới, sửa chữa 103.514 nhà Đại đoàn kết; hỗ trợ hơn 4,7 triệu lượt người nghèo khám, chữa bệnh; hơn 762 nghìn lượt học sinh, sinh viên về học tập và hơn 443 nghìn lượt người nghèo phát triển sản xuất.

Như vậy, Mặt trận không chỉ huy động nguồn lực để "cho" người nghèo. Quan trọng hơn, nhiều hoạt động đã từng bước chuyển sang hỗ trợ sinh kế, giáo dục, y tế và điều kiện sản xuất - tức là tạo năng lực để người dân tự vươn lên.

Đó chính là hướng tiếp cận cần được phát triển mạnh hơn trong giai đoạn tăng trưởng mới: an sinh xã hội không chỉ để khắc phục khó khăn mà phải góp phần tạo năng lực phát triển.

Tăng trưởng cao phải dựa trên đồng thuận cao

Tăng trưởng nhanh luôn kéo theo những thay đổi lớn.

Sắp xếp tổ chức bộ máy, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, chuyển đổi xanh, phát triển hạ tầng, đô thị hóa, cơ cấu lại sản xuất và phân bổ lại các nguồn lực đều tạo ra những cơ hội mới nhưng đồng thời tác động trực tiếp đến lợi ích của nhiều nhóm xã hội.

Công nghệ mới có thể tạo ra những ngành nghề mới nhưng cũng làm một bộ phận người lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp. Phát triển hạ tầng mở ra không gian tăng trưởng nhưng có thể tác động đến đất đai, sinh kế và môi trường sống. Cải cách bộ máy nâng cao hiệu lực, hiệu quả nhưng cũng tác động đến tư tưởng, tâm lý, việc làm và chế độ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức.

Nếu những tác động ấy không được nhận diện; nếu tâm tư của người dân không được lắng nghe; nếu lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và Nhân dân không được giải quyết hài hòa, chi phí xã hội của cải cách sẽ tăng lên.

Do đó, đồng thuận xã hội không phải là việc làm sau khi chính sách đã ban hành. Đồng thuận phải được kiến tạo ngay từ quá trình xây dựng chính sách.

Thực tiễn lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 là một minh chứng đáng chú ý.

Chỉ trong thời gian ngắn, hệ thống MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức thành viên đã tổ chức 61.791 hội nghị; tổng hợp hơn 51,19 triệu ý kiến, trong đó hơn 48,6 triệu ý kiến cá nhân và gần 2,6 triệu ý kiến của tổ chức.

Điều đáng quan tâm ở đây không chỉ là quy mô hơn 51 triệu ý kiến. Quan trọng hơn, hệ thống Mặt trận đã tạo ra một kênh để người dân trực tiếp tham gia vào một vấn đề hệ trọng của đất nước.

Kinh nghiệm đó hoàn toàn có thể được vận dụng trong xây dựng các chính sách phát triển.

Đối với những dự án lớn, chính sách lớn, vấn đề liên quan trực tiếp đến sinh kế và đời sống của Nhân dân, Mặt trận cần tham gia từ sớm: cung cấp thông tin, tổ chức đối thoại, lấy ý kiến, tập hợp những vấn đề còn khác nhau, phản ánh trung thực với Đảng, Nhà nước và cùng tìm kiếm giải pháp.

Theo nghĩa đó, Mặt trận không chỉ là "cầu nối", mà cần trở thành chủ thể kiến tạo đồng thuận phát triển.

Chuyển đại đoàn kết thành nguồn lực trực tiếp của tăng trưởng

Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Nhưng trong giai đoạn mới, nội hàm của đại đoàn kết cần được cụ thể hóa thêm trên phương diện phát triển.

Đại đoàn kết không chỉ là tập hợp các lực lượng xã hội. Điều quan trọng hơn là phải kết nối và phát huy được nguồn lực của từng lực lượng.

Đó là trí tuệ của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học; nguồn vốn, năng lực quản trị và khát vọng làm giàu chính đáng của doanh nhân; kỹ năng và tinh thần sáng tạo của công nhân; kinh nghiệm sản xuất và tiềm năng kinh tế của nông dân; sự năng động, nhạy bén với công nghệ của thanh niên; vai trò ngày càng lớn của phụ nữ trong kinh tế và xã hội; kinh nghiệm, uy tín của cựu chiến binh, người cao tuổi, chức sắc tôn giáo, người có uy tín; cùng tiềm lực kinh tế, tri thức và quan hệ quốc tế của người Việt Nam ở nước ngoài.

Nếu các nguồn lực này tồn tại riêng lẻ, sức mạnh sẽ bị phân tán. Nếu được Mặt trận và các tổ chức thành viên kết nối vào những mục tiêu phát triển chung, sức mạnh có thể được nhân lên.

Vì vậy, trong giai đoạn mới, Mặt trận cần chuyển mạnh từ "tập hợp lực lượng" sang "tổ chức nguồn lực"; từ "phát động phong trào" sang "tạo ra kết quả phát triển"; từ "vận động Nhân dân tham gia" sang "tạo điều kiện để Nhân dân trở thành chủ thể của phát triển".

Đây có thể xem là một bước phát triển mới về nội dung của đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đưa các phong trào thi đua vào đúng những động lực của tăng trưởng

Tăng trưởng hai con số không thể chỉ được tạo ra từ một số dự án đầu tư lớn. Nó phải là tổng hợp của hàng triệu cải tiến nhỏ, sáng kiến mới và sự gia tăng năng suất tại từng doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất và cộng đồng dân cư.

Vì vậy, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần rà soát các cuộc vận động, phong trào thi đua, hướng mạnh vào những động lực trực tiếp của tăng trưởng: năng suất lao động, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tiết kiệm và chống lãng phí.

Với tổ chức Công đoàn, trọng tâm phải là nâng cao kỹ năng, năng suất, tác phong công nghiệp, sáng kiến của người lao động và khả năng thích ứng trước công nghệ mới.

Với Hội Nông dân, cần thúc đẩy chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp; từ sản xuất riêng lẻ sang liên kết chuỗi; từ chạy theo sản lượng sang nâng cao chất lượng, thương hiệu và giá trị gia tăng.

Với Đoàn Thanh niên, cần đưa lực lượng trẻ thực sự trở thành đội ngũ xung kích trong chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.

Với Hội Liên hiệp Phụ nữ, cần tiếp tục mở rộng hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, tiếp cận vốn, công nghệ, thị trường, kỹ năng số và tri thức quản trị.

Với Hội Cựu chiến binh, cần phát huy phẩm chất, uy tín và kinh nghiệm của hội viên trong phát triển kinh tế, xây dựng cộng đồng, giữ gìn an ninh, trật tự và giáo dục thế hệ trẻ.

Các hội khoa học, nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một nguồn lực trí tuệ lớn. Năm 2025, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã tham gia phản ánh nhiều vấn đề về an sinh, đất đai, môi trường, cải cách hành chính, tinh giản bộ máy; nhiều ý kiến được tiếp thu trong quá trình hoàn thiện chính sách.

Cần tiến thêm một bước: xây dựng các hội thực sự trở thành nơi sản sinh sáng kiến chính sách, tập hợp chuyên gia và chuyển giao tri thức cho xã hội.

Đồng hành với doanh nghiệp, mở rộng thị trường cho hàng Việt Nam

Một lĩnh vực Mặt trận đã có nền tảng thực tiễn là Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam".

Cuộc vận động không chỉ có ý nghĩa vận động lòng yêu nước trong tiêu dùng. Nếu được đổi mới, đây có thể trở thành một công cụ hỗ trợ phát triển thị trường trong nước, nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam và xây dựng thương hiệu quốc gia.

Chẳng hạn, tại Hà Nội, chương trình bình chọn "Hàng Việt Nam được người tiêu dùng yêu thích" năm 2024 đã vinh danh 150 sản phẩm, dịch vụ của 142 doanh nghiệp; đồng thời phát hành 6.000 ấn phẩm giới thiệu hàng Việt Nam chất lượng cao tới người tiêu dùng.

Trong giai đoạn mới, Cuộc vận động cần được nâng lên một tầm mới.

Không chỉ kêu gọi "dùng hàng Việt Nam", mà phải thúc đẩy "hàng Việt Nam chinh phục người Việt Nam bằng chất lượng, công nghệ và uy tín".

Mặt trận và các tổ chức thành viên có thể kết nối người tiêu dùng với doanh nghiệp; phản ánh yêu cầu của thị trường; hỗ trợ quảng bá sản phẩm có chất lượng; khuyến khích tiêu dùng xanh, tiêu dùng số; đấu tranh với hàng giả, hàng kém chất lượng; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Đồng thời, Mặt trận, các hiệp hội doanh nghiệp và hội nghề nghiệp phải trở thành kênh phản ánh những rào cản mà doanh nghiệp đang gặp phải về thủ tục, đất đai, vốn, công nghệ, nhân lực và thị trường.

Đồng hành với doanh nghiệp không có nghĩa là bảo vệ mọi yêu cầu của doanh nghiệp. Phải đồng thời vận động doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, bảo đảm quyền lợi người lao động, bảo vệ môi trường, thực hiện trách nhiệm xã hội và xây dựng văn hóa kinh doanh.

Giám sát, phản biện phải góp phần khơi thông nguồn lực

Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh phải giảm được những chi phí không cần thiết do thể chế, thủ tục và sự trì trệ gây ra.

Đây chính là một lĩnh vực Mặt trận và các đoàn thể có thể đóng góp trực tiếp.

Trong chương trình công tác năm 2025, hệ thống Mặt trận đã xác định những chỉ tiêu khá cụ thể: Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam thực hiện ít nhất 3 chương trình giám sát phạm vi toàn quốc; mỗi tổ chức chính trị - xã hội ít nhất 2 nội dung giám sát; Mặt trận cấp tỉnh ít nhất 2 nội dung; đồng thời đặt yêu cầu phản biện đối với các dự thảo luật và văn bản quy phạm pháp luật ở từng cấp.

Vấn đề trong giai đoạn tới là lựa chọn đúng nội dung giám sát.

Cần ưu tiên những điểm nghẽn ảnh hưởng trực tiếp đến người dân và sự phát triển: cải cách thủ tục hành chính; thực hiện các dự án đầu tư; đất đai; nhà ở; môi trường; chính sách đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; đào tạo nghề; an sinh xã hội; giải ngân các chương trình mục tiêu quốc gia.

Giám sát phải đi đến cùng vấn đề: xác định rõ bất cập, kiến nghị giải pháp và theo dõi việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.

Phản biện xã hội cũng phải chuyển mạnh từ góp ý khi văn bản gần hoàn thành sang tham gia từ quá trình hình thành chính sách.

Nếu làm tốt, giám sát và phản biện của Mặt trận chính là một cách góp phần giảm chi phí thể chế, chống lãng phí và khơi thông nguồn lực cho phát triển.

Tăng trưởng nhanh nhưng không để ai bị bỏ lại phía sau

Tăng trưởng hai con số chỉ thực sự có ý nghĩa khi đời sống Nhân dân được nâng cao và thành quả phát triển được chia sẻ hợp lý.

Quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng sẽ tạo ra những nhóm hưởng lợi nhanh hơn, đồng thời cũng có thể tạo ra những nhóm dễ bị tổn thương: lao động mất việc do tự động hóa, người phải chuyển đổi sinh kế, nông dân bị tác động bởi đô thị hóa, người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa hoặc những người gặp khó khăn trong tiếp cận công nghệ.

Mặt trận và các tổ chức thành viên cần phát hiện sớm những vấn đề đó.

Kinh nghiệm từ Quỹ "Vì người nghèo", nhà Đại đoàn kết và chương trình xóa nhà tạm cho thấy Mặt trận có khả năng huy động nguồn lực xã hội rất lớn. Nhưng trong giai đoạn tới, cần chuyển mạnh hơn từ "hỗ trợ khó khăn" sang "tạo năng lực phát triển".

Một hộ nghèo cần căn nhà, nhưng sau căn nhà phải là sinh kế.

Một người lao động mất việc cần hỗ trợ trước mắt, nhưng quan trọng hơn là đào tạo lại để có việc làm mới.

Một thanh niên nghèo cần học bổng, nhưng xa hơn phải là cơ hội học nghề, khởi nghiệp và tiếp cận thị trường lao động.

An sinh xã hội như vậy không đứng ngoài tăng trưởng. An sinh tốt giúp con người có khả năng tham gia vào tăng trưởng, làm cho tăng trưởng bao trùm hơn và bền vững hơn.

Xây dựng một cơ chế rộng mở để Nhân dân hiến kế phát triển đất nước

Nếu Mặt trận có thể tập hợp hơn 51 triệu ý kiến đối với một vấn đề hệ trọng như sửa đổi Hiến pháp, thì hoàn toàn có thể xây dựng những cơ chế rộng mở để tập hợp trí tuệ Nhân dân cho phát triển kinh tế - xã hội.

Cần hình thành các diễn đàn hiến kế thường xuyên, cả trực tiếp và trên nền tảng số, để trí thức, doanh nhân, nhà khoa học, công nhân, nông dân, thanh niên và người Việt Nam ở nước ngoài đề xuất sáng kiến.

Nhưng điều quan trọng là không để hiến kế dừng lại ở việc "tiếp nhận". Ý kiến phải được phân loại; sáng kiến tốt phải được chuyển tới đúng cơ quan; phải có phản hồi; những mô hình có hiệu quả phải được thử nghiệm và nhân rộng.

Đây là cách biến trí tuệ phân tán trong xã hội thành một nguồn lực chung của quốc gia.

Muốn vận động xã hội đổi mới, Mặt trận phải đổi mới trước

Những yêu cầu trên cuối cùng đều dẫn tới một vấn đề: đổi mới chính Mặt trận và các tổ chức thành viên.

Không thể vận động một xã hội số chủ yếu bằng hội họp và văn bản.

Không thể tập hợp Nhân dân nếu hoạt động xa cơ sở.

Không thể đánh giá hiệu quả chủ yếu bằng số lượng hội nghị, kế hoạch hay phong trào đã phát động.

Cần chuyển mạnh từ tư duy tổ chức hoạt động sang tư duy tạo ra kết quả; từ tuyên truyền một chiều sang đối thoại; từ phát động phong trào dàn trải sang lựa chọn đúng vấn đề; từ phản ánh tình hình sang dự báo và đề xuất giải pháp; từ quản lý đoàn viên, hội viên sang phục vụ đoàn viên, hội viên và Nhân dân.

Mỗi tổ chức cần trả lời ba câu hỏi rất cụ thể: mình đóng góp gì cho mục tiêu phát triển đất nước; mình đang đại diện cho nhu cầu và lợi ích chính đáng nào của Nhân dân; và kết quả hoạt động của mình được đo bằng thay đổi gì trong thực tiễn?

Chuyển đổi số phải trở thành một phương thức hoạt động căn bản của Mặt trận. Năm 2025, hệ thống Mặt trận đã đặt mục tiêu 100% Ủy ban MTTQ các cấp triển khai chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động.

Nhưng chuyển đổi số không chỉ là số hóa văn bản. Điều quan trọng hơn là hình thành khả năng nắm bắt tình hình Nhân dân theo thời gian thực; tương tác với người dân; tiếp nhận kiến nghị; tổ chức lấy ý kiến; đo lường mức độ hài lòng và phát hiện sớm những vấn đề xã hội.

Cán bộ Mặt trận trong giai đoạn mới vì thế không chỉ cần giỏi vận động quần chúng mà còn phải hiểu kinh tế, pháp luật, công nghệ, truyền thông số, quản trị xã hội và chính sách công.

Tinh gọn tổ chức phải đi cùng với nâng cao chất lượng hoạt động: giảm đầu mối nhưng tăng khả năng đến với dân; giảm tầng nấc nhưng tăng tốc độ phản ứng; giảm hành chính nhưng tăng năng lực đại diện và phục vụ Nhân dân.

Biến sức mạnh đại đoàn kết thành một lợi thế cạnh tranh quốc gia

Nguồn lực tài chính có thể huy động từ thị trường. Công nghệ có thể được nghiên cứu, chuyển giao hoặc nhập khẩu. Nhưng niềm tin và sự đồng thuận xã hội không thể mua được bằng tiền.

Một xã hội có niềm tin cao sẽ giảm chi phí thực thi chính sách.

Một cộng đồng có khả năng hợp tác cao sẽ huy động nguồn lực nhanh hơn.

Một đất nước mà người dân tin tưởng vào tương lai sẽ mạnh dạn đầu tư, lao động, sáng tạo và cống hiến.

Thực tiễn Mặt trận huy động hàng chục nghìn tỷ đồng cho người nghèo, hàng nghìn tỷ đồng chỉ trong thời gian ngắn để cứu trợ đồng bào bị thiên tai; vận động cả xã hội cùng hoàn thành hơn 334 nghìn căn nhà; tập hợp hơn 51 triệu ý kiến tham gia một vấn đề hệ trọng của đất nước đã cho thấy sức mạnh ấy là có thật.

Vấn đề đặt ra là phải đưa sức mạnh đó từ những thời điểm đặc biệt trở thành năng lực thường xuyên của xã hội Việt Nam trong phát triển.

Nếu chúng ta huy động được sức dân để giúp đồng bào vượt qua thiên tai, thì cũng phải huy động được sức dân cho đổi mới sáng tạo.

Nếu chúng ta tập hợp được hàng chục triệu ý kiến cho một vấn đề lớn của đất nước, thì cũng có thể tập hợp hàng triệu sáng kiến cải thiện môi trường sống, sản xuất, kinh doanh.

Nếu chúng ta có thể tạo ra một phong trào xã hội rộng lớn để xóa nhà tạm, thì cũng có thể tạo ra những phong trào xã hội rộng lớn về nâng cao năng suất lao động, học tập suốt đời, chuyển đổi số, tiêu dùng hàng Việt Nam, tiết kiệm và chống lãng phí.

Đó chính là bước chuyển quan trọng: từ sức mạnh đoàn kết trong vượt qua khó khăn sang sức mạnh đoàn kết để kiến tạo phát triển.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số là một thách thức lớn. Nhưng phía sau hơn một trăm triệu người Việt Nam là một nguồn lực vô cùng to lớn về trí tuệ, lao động, sáng tạo, vốn, văn hóa, lòng yêu nước và khát vọng vươn lên.

Sứ mệnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng trong giai đoạn mới chính là tập hợp, kết nối và làm cho những nguồn lực ấy cộng hưởng với nhau.

Khi khát vọng phát triển của đất nước trở thành khát vọng của mỗi người dân; khi mỗi công nhân thấy năng suất của mình có ý nghĩa đối với sức cạnh tranh quốc gia; mỗi nông dân thấy giá trị nông sản của mình góp phần vào tăng trưởng; mỗi doanh nhân thấy sự lớn mạnh của doanh nghiệp gắn với sự lớn mạnh của đất nước; mỗi trí thức thấy sáng tạo của mình được trân trọng; mỗi người Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước đều tìm thấy cơ hội đóng góp cho Tổ quốc - khi đó, đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ không chỉ là nền tảng chính trị - xã hội, mà thực sự trở thành một nguồn lực phát triển và một lợi thế cạnh tranh đặc biệt của Việt Nam.

Đó cũng chính là đóng góp thiết thực nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng vào mục tiêu tăng trưởng hai con số và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Bình luận của bạn

Bình luận

icon icon