Công dân khuyến học

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Thước đo của khoa học công nghệ là hiệu quả trong cuộc sống

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Thước đo của khoa học công nghệ là hiệu quả trong cuộc sống

Ngô Văn Hiển

Ngô Văn Hiển

14:34 - 11/09/2026
Công dân & Khuyến học trên

PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương Mại, Bộ Công thương có cuộc trao đổi với Tạp chí Công dân và Khuyến học nhằm làm rõ nhận định khoa học công nghệ phải thực sự đi vào cuộc sống, đi vào sản xuất, doanh nghiệp và từng người dân. Khoa học công nghệ phải trở thành một bộ phận tự nhiên của nền kinh tế.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Thước đo của khoa học công nghệ là hiệu quả trong cuộc sống - Ảnh 1.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương Mại, Bộ Công thương.

Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang đặt ra nhiều vấn đề đối với quá trình phát triển đất nước. Trong đó, khoa học và công nghệ ngày càng được xác định là một trong những động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương Mại, Bộ Công thương, Thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng) cho rằng vấn đề không chỉ nằm ở việc Nhà nước dành bao nhiêu nguồn lực cho khoa học công nghệ hay có bao nhiêu chương trình, đề án được triển khai, mà quan trọng hơn là khoa học công nghệ phải thực sự đi vào cuộc sống, đi vào sản xuất, doanh nghiệp và từng người dân. 

Muốn như thế thì Khoa học công nghệ phải trở thành một bộ phận tự nhiên của nền kinh tế, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, giúp người nông dân giảm sức lao động, tăng năng suất, nâng cao thu nhập và giúp người dân cải thiện chất lượng cuộc sống.

Khoa học công nghệ cần thay đổi cách tiếp cận

Khi nói đến chính sách khoa học công nghệ, cần thay đổi cách tiếp cận. Khoa học công nghệ không nên chỉ được hiểu là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu hay trường đại học. 

Nhà nước có vai trò kiến tạo thể chế, tạo môi trường, đầu tư cho nghiên cứu nền tảng và hỗ trợ những lĩnh vực mà khu vực tư nhân chưa đủ khả năng đảm nhiệm. Nhưng đích đến cuối cùng của khoa học công nghệ phải là sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội.

"Không phải cứ Nhà nước đặt ra việc này, yêu cầu làm cái kia là khoa học công nghệ sẽ phát triển. Khoa học công nghệ phải tự đi vào sản xuất kinh doanh, đi vào doanh nghiệp, đi vào người nông dân, đi vào đời sống của người dân", PGS.TS Nguyễn Văn Nam nhấn mạnh.

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Nam, cần đặt một câu hỏi rất cụ thể đối với mỗi chính sách, chương trình khoa học công nghệ: sản phẩm cuối cùng có giúp người dân làm việc hiệu quả hơn, sản xuất tốt hơn, thu nhập cao hơn và cuộc sống thuận lợi hơn hay không?

Một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nhất khoảng cách giữa khoa học và thực tiễn là nông nghiệp. PGS.TS Nguyễn Văn Nam nhớ lại khoảng năm 2004, ông cùng một đoàn công tác đi với nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn sang Quảng Tây, Trung Quốc, đoàn được thăm một cơ sở nuôi cấy mô. 

Tại đây, các nhà khoa học và người nông dân cùng tham gia vào nghiên cứu và ứng dụng sản xuất. Điều khiến ông ấn tượng hơn là trong số những người nông dân đang tham gia trực tiếp làm việc tại cơ sở này có bảy phụ nữ Việt Nam, quê Kiến An, Hải Phòng. Theo ông, người Việt Nam vốn có sự tinh ý, tỉ mỉ và tháo vát, nên họ rất nắm bắt công việc rất nhanh.

Từ câu chuyện đó, PGS.TS Nguyễn Văn Nam cho rằng nhà khoa học không nên chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm rồi chờ người khác tìm cách ứng dụng. Nhà khoa học cần đi đến cơ sở sản xuất, đến doanh nghiệp, đến cánh đồng, đến làng nghề; trực tiếp hướng dẫn, chuyển giao và cùng người sản xuất giải quyết những vấn đề cụ thể. Vì vậy cần có sự thay đổi từ tư duy "nghiên cứu cái mình có" sang "nghiên cứu cái xã hội cần".

"Người nông dân vẫn oằn lưng trên cánh đồng"

Nhìn vào nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều nghịch lý rất đáng suy nghĩ. Đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ với các công nghệ mới: trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, robot, công nghệ sinh học và những thành tựu khoa học công nghệ mới. 

Mặt khác, trên nhiều cánh đồng Bắc Bộ và nhiều vùng nông nghiệp khác, hình ảnh người nông dân vẫn phải oằn lưng lao động như cấy lúa, đắp bờ, cuốc đất.., phụ thuộc nhiều vào sức người và sản xuất trên những mảnh ruộng manh mún.

Theo ông, đó là hình ảnh cho thấy khoa học công nghệ vẫn chưa thực sự đi hết chặng đường từ phòng nghiên cứu đến đời sống. Đây không chỉ là vấn đề của riêng ngành nông nghiệp. Đằng sau nó là bài toán về năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng.

Trong nông nghiệp, cần tăng cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ sinh học, giống mới, cảm biến, dữ liệu, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số; đồng thời tổ chức lại sản xuất theo hướng quy mô lớn, liên kết giữa người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Khi đó, khoa học công nghệ không còn là một khái niệm mang tính khẩu hiệu mà trở thành công cụ trực tiếp để người nông dân tạo ra giá trị.

Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của đổi mới công nghệ

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Nam, để khoa học công nghệ thực sự đi vào nền kinh tế, không thể thiếu vai trò của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân.

Ông cho rằng nếu xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế nhưng thiếu những chính sách đủ cụ thể để doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn, công nghệ, đất đai, nhân lực và thị trường thì chủ trương khó chuyển hóa thành sức mạnh thực tế.

Doanh nghiệp là nơi trực tiếp đưa công nghệ vào sản xuất và kiểm nghiệm hiệu quả của công nghệ bằng chính kết quả kinh doanh. Một công nghệ chỉ thực sự có sức sống khi doanh nghiệp thấy rằng đầu tư vào công nghệ giúp họ giảm chi phí, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc mở rộng thị trường.

Vì vậy, chính sách khoa học công nghệ cần gắn chặt với chính sách phát triển doanh nghiệp. Cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, hợp tác với trường đại học, viện nghiên cứu và hình thành các sản phẩm công nghệ có khả năng cạnh tranh.

Nhà nước không nhất thiết phải làm thay doanh nghiệp, nhưng phải tạo ra môi trường để doanh nghiệp có động lực làm khoa học công nghệ.

Đưa khoa học công nghệ thành nhu cầu tự thân

Một nền khoa học công nghệ phát triển bền vững không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Nam, mục tiêu cao hơn là làm cho doanh nghiệp và người dân tự có nhu cầu ứng dụng khoa học công nghệ.

Khi một người nông dân nhận thấy sử dụng công nghệ tưới giúp tiết kiệm nước và tăng năng suất; khi doanh nghiệp nhận thấy tự động hóa giúp giảm chi phí; khi bệnh viện thấy trí tuệ nhân tạo giúp bác sĩ nâng cao hiệu quả chẩn đoán; khi người dân thấy công nghệ giúp cuộc sống thuận tiện hơn, lúc đó công nghệ sẽ tự hình thành nhu cầu. Đây mới là nền tảng lâu dài của một xã hội đổi mới sáng tạo.

Muốn vậy, chính sách phải đồng thời giải quyết nhiều vấn đề: tạo thị trường cho sản phẩm công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện tiếp cận vốn và đặc biệt là thúc đẩy liên kết giữa nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp - người dân.

Một nền nông nghiệp hiện đại phải giúp người nông dân bớt nhọc nhằn. Một nhà máy hiện đại phải giúp người lao động tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn. Một nền y tế hiện đại phải giúp người bệnh được chẩn đoán và điều trị tốt hơn. Một nền hành chính số phải giúp người dân thực hiện thủ tục thuận tiện hơn. Đó chính là thước đo thực chất nhất của khoa học công nghệ.

"Vấn đề cuối cùng không phải là chúng ta có bao nhiêu chương trình khoa học công nghệ, mà là khoa học công nghệ đã giúp người dân thay đổi cuộc sống như thế nào", PGS.TS Nguyễn Văn Nam nhấn mạnh.

Để đánh giá hiệu quả của chính sách khoa học công nghệ trong giai đoạn mới: Không lấy thành tích làm đích đến, mà lấy hiệu quả thực tiễn, năng suất lao động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và đời sống người dân làm thước đo.

Bình luận của bạn

Bình luận

icon icon