Diễn đàn "Chuyển đổi số trong hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường"
Ngày 7/10, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Tạp chí Kinh Doanh (VnBusiness) và Viện Khoa học Kinh tế phối hợp tổ chức Diễn đàn "Chuyển đổi số trong hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường".
Diễn đàn cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đồng thời triển khai "Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số" của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.

Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phát biểu khai mạc diễn đàn.
Phát biểu khai mạc diễn đàn, bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cho hay: Các diễn đàn quốc tế lớn, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn đã trở thành yêu cầu bắt buộc và là xu thế tất yếu.
Tuy nhiên, nhìn lại khu vực hợp tác xã của chúng ta, mức độ thực hành chuyển đổi số vẫn còn rất hạn chế - chỉ số trưởng thành mới đạt khoảng 29,5%, đang ở giai đoạn bắt đầu: "Khoảng cách này đòi hỏi chúng ta phải hành động ngay lập tức.
Chuyển đổi số không còn là lựa chọn, mà là con đường bắt buộc phải đi để tạo ra giá trị thiết thực cho hợp tác xã và thành viên, nâng cao năng lực quản trị, sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường trong thời đại mới. Điểm nghẽn của chuyển đổi số trong hợp tác xã hiện nay không đơn thuần nằm ở thiết bị hay công nghệ.
Điểm nghẽn còn nằm ở dữ liệu, kỹ năng và phương thức quản trị. Quan trọng hơn là khả năng biến công nghệ thành giá trị kinh tế. Chuyển đổi số trong hợp tác xã không nên bắt đầu bằng câu hỏi "mua công nghệ gì", mà phải bắt đầu bằng câu hỏi "công nghệ giải quyết được vấn đề gì", bà Cao Xuân Thu Vân nhấn mạnh.
Theo bà Cao Xuân Thu Vân, cốt lõi của chuyển đổi số là dữ liệu - nguồn lực tạo ra giá trị và năng lực cạnh tranh thực sự. Công nghệ giúp chuẩn hóa toàn bộ thông tin về nguyên liệu, quy trình, sản lượng, chất lượng và chi phí, từ đó biến câu chuyện sản phẩm từ "cảm tính" thành "có thể kiểm chứng".
Thứ hai là quản trị dữ liệu. Công nghệ phải giúp hợp tác xã quản lý thành viên tốt hơn, tổ chức sản xuất hiệu quả hơn, giảm chi phí, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng và ra quyết định nhanh hơn. Nếu đầu tư công nghệ nhưng quản trị không tốt hơn, chi phí không giảm, hiệu quả không tăng thì cần xem lại cách thức chuyển đổi số.
Thứ ba là thị trường. Chuyển đổi số phải giúp sản phẩm của hợp tác xã tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, kết nối với doanh nghiệp và hệ thống phân phối, tham gia thương mại điện tử và từng bước đi sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Phiên thảo luận - không gian kết nối giữa cơ quan quản lý, Liên minh hợp tác xã, chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức tài chính, hệ thống phân phối và hợp tác xã, từ đó cùng tìm kiếm những giải pháp có khả năng triển khai thực tế.
Chuyển đổi số trong hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường
Với chủ đề "Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường", diễn đàn tập trung trao đổi theo hướng từ chính sách, nguồn lực đến giải pháp công nghệ và khả năng kết nối thị trường.
Theo thống kê, cả nước hiện có 35.041 hợp tác xã, 164 liên hiệp hợp tác xã và 65.910 tổ hợp tác, thu hút gần 7,1 triệu thành viên và tạo việc làm cho khoảng 2 triệu lao động thường xuyên, nhu cầu chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể rất đa dạng về quy mô và điều kiện hoạt động.

Ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường với tham luận: "Dữ liệu Nông nghiệp và truy xuất nguồn gốc : Nền tảng Hợp tác xã bước vào chuỗi giá trị hiện đại".
Chia sẻ tại diễn đàn, ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Tính đến hết năm 2025, cả nước có khoảng 36.270 hợp tác xã với gần 7,1 triệu thành viên, đóng góp khoảng 4,8% GDP.
Trong đó, hợp tác xã nông nghiệp chiếm áp đảo với 23.954 đơn vị, tương đương 66% tổng số. Khảo sát gần đây cho thấy khoảng 35% hợp tác xã đã bắt đầu sử dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Thế nhưng, con số thống kê từ Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ tính đến ngày 31/8/2026 lại phản ánh một thực tế đáng suy ngẫm.
Trong tổng số 793.623 sản phẩm đăng ký trên hệ thống, chỉ có 158.451 sản phẩm có đầy đủ thông tin để truy xuất, đạt tỷ lệ vỏn vẹn 20%. Đáng lo ngại hơn, trong 3.013 nông hộ đăng ký, chỉ có đúng 36 hộ cung cấp đủ dữ liệu, tương ứng tỷ lệ 1,2%.
Thậm chí trong giai đoạn từ ngày 1/7 đến 31/8/2026, trong hơn 288 nghìn sản phẩm đăng ký mới, hệ thống chỉ ghi nhận 323 sản phẩm có thông tin hoàn chỉnh, đạt khoảng 0,1%.
Theo ông Tuất, mã QR thực chất chỉ là chiếc cửa sổ để người tiêu dùng tra cứu. Giá trị cốt lõi của truy xuất nguồn gốc nằm ở khối dữ liệu sống động phía sau con tem đó. Dữ liệu ấy phải được ghi nhận đúng thời điểm canh tác, có sự kiểm tra, xác nhận của cơ quan chuyên môn và xuyên suốt từ mảnh ruộng đến kệ hàng: "Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay hoàn toàn không nằm ở việc thiếu phần mềm hay công nghệ, mà nằm ở chính năng lực ghi chép, cập nhật dữ liệu của người sản xuất tại cơ sở", ông Tuất nói.
Cũng tại diễn đàn, các chuyên gia, nhà quản lý, đại diện các hợp tác xã cùng các doanh nghiệp đã thống nhất, thay vì tiếp cận chuyển đổi số theo hướng đầu tư công nghệ đơn thuần, cần tập trung vào những bài toán cụ thể mà hợp tác xã đang phải giải quyết như quản lý vùng nguyên liệu, kiểm soát sản lượng, truy xuất nguồn gốc, quản lý đơn hàng, kết nối khách hàng và giảm chi phí vận hành. Đồng thời, hướng tới thúc đẩy cách tiếp cận linh hoạt, trong đó giải pháp công nghệ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế và khả năng đầu tư của từng nhóm hợp tác xã.
Thông qua các nội dung trao đổi, Diễn đàn kỳ vọng góp phần kết nối 3 yếu tố dữ liệu, công nghệ và thị trường, qua đó thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng thực chất, phù hợp hơn với điều kiện của khu vực kinh tế tập thể.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.
Đăng nhập để tham gia bình luận
Đăng nhập với
Facebook Google