Công dân khuyến học

Điểm khác biệt về chính sách khi sinh con trước và sau 1/7

Điểm khác biệt về chính sách khi sinh con trước và sau 1/7

Đoàn Trang

Đoàn Trang

13:49 - 07/05/2026
Công dân & Khuyến học trên

Luật Dân số 2025, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, mang đến nhiều thay đổi đáng chú ý tác động trực tiếp đến quyền lợi người lao động, đặc biệt là lao động nữ. Bên cạnh đó là hàng loạt các chính sách hỗ trợ mới nhằm khuyến khích và duy trì mức sinh hợp lý.

Điểm khác biệt về chính sách khi sinh con trước và sau 1/7- Ảnh 1.
Quyền lợi khi sinh con của người lao động thay đổi rõ rệt từ ngày 01/7/2026.


Khác biệt về quyền lợi khi sinh con trước và sau 01/7/2026

Trước ngày 01/7/2026, các quyền lợi khi sinh con của người lao động chủ yếu được điều chỉnh bởi pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội, với mục tiêu chính là bảo vệ sức khỏe lao động nữ và bảo đảm chế độ thai sản.

Theo khoản 7 Điều 4 Bộ luật Lao động 2019, Nhà nước có chính sách bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ thai sản và quyền lợi của lao động nữ. Tuy nhiên, các quy định này chưa được thiết kế như một công cụ điều chỉnh mức sinh. 

Từ ngày 01/7/2026, khi Luật Dân số 2025 có hiệu lực, chính sách sinh con đã có sự thay đổi rõ rệt. Khoản 4 Điều 7 của Luật này xác định Nhà nước có chính sách hỗ trợ sinh con và nuôi con nhằm duy trì mức sinh thay thế, qua đó chuyển từ cách tiếp cận bảo vệ sang chủ động khuyến khích sinh con.

Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội 2024, Bộ luật Lao động 2019, Luật Dân số 2025, có thể thấy sự khác biệt rõ rệt về quyền lợi khi sinh con trước và sau 01/7/2026 như sau:

Nội dung

Trước 01/7/2026

Sau 01/7/2026 

Cơ sở pháp lý

Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội

Luật Dân số 2025

Định hướng chính sách

Bảo vệ quyền lợi lao động nữ trong quan hệ lao động (khoản 7 Điều 4 Bộ luật Lao động).

Khuyến khích sinh con, duy trì mức sinh thay thế (khoản 4 Điều 7 Luật Dân số).

Nghỉ thai sản (lao động nữ)

Nghỉ 06 tháng; nếu sinh đôi trở lên thì từ con thứ hai, mỗi con được nghỉ thêm 01 tháng (theo Luật Bảo hiểm xã hội).

Sinh con thứ hai được nghỉ 07 tháng (điểm a khoản 1 Điều 14).

Nghỉ khi vợ sinh con (lao động nam)

Nghỉ theo chế độ Bảo hiểm xã hội, số ngày nghỉ phụ thuộc trường hợp sinh (thường, mổ, sinh nhiều con…).

Nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con (điểm a khoản 1 Điều 14).

Hỗ trợ tài chính khi sinh con

Không có quy định thống nhất trong luật; chủ yếu do các chương trình, chính sách riêng lẻ của địa phương triển khai.

Quy định cụ thể tại điểm b, c, d khoản 1 Điều 14: hỗ trợ cho phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; phụ nữ tại địa phương có mức sinh thấp; phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi. Khoản 2 Điều 14 giao Chính phủ quy định mức hỗ trợ và thủ tục.

Chính sách nhà ở

Không có quy định gắn với việc sinh con; nhà ở xã hội xét theo điều kiện kinh tế, thu nhập.

Người có từ 02 con đẻ trở lên được ưu tiên mua, thuê mua, thuê nhà ở xã hội (điểm đ khoản 1 Điều 14).

Vai trò của địa phương

Chủ yếu thực hiện chính sách chung do Trung ương ban hành, ít có quyền điều chỉnh.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định mức hỗ trợ cao hơn và bổ sung chính sách phù hợp (khoản 3 Điều 14); chính sách được điều chỉnh theo mức sinh hằng năm (khoản 4 Điều 14).

Có thể thấy, Luật Dân số 2025 đã bổ sung hàng loạt chính sách hỗ trợ tài chính hướng tới các nhóm đối tượng cụ thể. Trong đó có hỗ trợ phụ nữ thuộc dân tộc thiểu số rất ít người khi sinh con; hỗ trợ phụ nữ sinh con tại các địa phương có mức sinh thấp; và khuyến khích phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi thông qua các chính sách hỗ trợ phù hợp.

Đáng chú ý, luật còn quy định người có từ hai con đẻ trở lên sẽ được ưu tiên khi mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội. Đây là điểm mới mang tính khuyến khích rõ rệt, gắn chính sách dân số với an sinh nhà ở.

Bên cạnh đó về tổng thể, Luật Dân số 2025 xây dựng một khung chính sách đồng bộ, liên kết với các lĩnh vực như lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nhà ở. Mục tiêu là ổn định quy mô dân số, duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững trong bối cảnh nhiều địa phương đang đối mặt với tình trạng mức sinh giảm.

Nhiều chế độ thai sản thay đổi từ 01/7/2026 khi tăng lương cơ sở 

Từ ngày 01/7/2026, khi mức lương cơ sở tăng lên 2,53 triệu đồng/tháng, nhiều khoản tiền trong chế độ thai sản cũng được điều chỉnh tương ứng do gắn với “mức tham chiếu” (hiện bằng lương cơ sở theo quy định).

2.1 Đối với lao động nữ

* Trợ cấp một lần khi sinh con

Theo Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024: Trợ cấp một lần khi sinh con = 02 lần mức tham chiếu. Bên cạnh đó, khoản 13 Điều 141 Luật Bảo hiểm xã hội 2024: Mức tham chiếu hiện bằng mức lương cơ sở

Theo quy định, mức trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức tham chiếu. Mức hưởng như sau:

Nội dung

Hiện hành (2,34 triệu)

Từ 01/7/2026 (2,53 triệu)

Chênh lệch

Trợ cấp 1 lần/con

4,68 triệu đồng

5,06 triệu đồng

tăng 380.000 đồng

Như vậy, từ 01/7/2026, mỗi con sinh ra sẽ được tăng thêm 380.000 đồng tiền trợ cấp một lần.

* Tiền dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau sinh

Theo Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức hưởng 1 ngày = 30% mức tham chiếu. Như vậy, mức hưởng là:

Nội dung

Hiện hành (2,34 triệu)

Từ 01/7/2026 (2,53 triệu)

Chênh lệch

Tiền dưỡng sức/ngày

702.000 đồng

759.000 đồng

tăng 57.000 đồng

Khoản này tăng theo ngày nghỉ dưỡng sức sau sinh (tối đa 5-10 ngày tùy trường hợp).

* Tiền thai sản trong thời gian nghỉ sinh (lao động nữ)

Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định:

Mức hưởng = 100% × mức bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ.

Nhân với 06 tháng nghỉ thai sản nếu sinh con một, đầu lòng và nhân với 07 tháng nếu sinh con sinh đôi, hoặc sinh con thứ 2

Khoản này không phụ thuộc lương cơ sở. Tuy nhiên cũng tăng rõ rệt đối với lao động nữ sinh con thứ 2.

2.2 Chế độ thai sản của lao động nam

* Tiền chế độ thai sản

Căn cứ Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, lao động nam đang tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc khi vợ sinh con được nghỉ thai sản như sau:

  • 05 ngày làm việc;
  • 07 ngày làm việc nếu vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi;
  • 10 ngày làm việc nếu vợ sinh đôi; từ sinh ba trở lên, cứ thêm mỗi con (từ con thứ ba) được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;
  • 14 ngày làm việc nếu vợ sinh đôi phải phẫu thuật; từ sinh ba trở lên phải phẫu thuật, cứ thêm mỗi con (từ con thứ ba) được nghỉ thêm 03 ngày làm việc.

Thời gian nghỉ phải thực hiện trong vòng 60 ngày kể từ ngày vợ sinh con; nếu nghỉ nhiều lần thì tổng thời gian nghỉ không vượt quá mức nêu trên.

Khoản 2, Điều 29 Luật Dân số 2025, trường hợp vợ sinh đôi hoặc vợ sinh con thứ hai thì được nghỉ 10 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi;

Theo quy định Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024:

Mức hưởng = (Bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội 6 tháng): 24 × số ngày nghỉ

* Trợ cấp một lần khi vợ sinh con

Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, khoản 13 Điều 141 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, quy định mức hưởng như sau:

Nội dung

Hiện hành (2,34 triệu)

Từ 01/7/2026 (2,53 triệu)

Chênh lệch

Trợ cấp 1 lần/con (chồng nhận)

4,68 triệu đồng

5,06 triệu đồng

tăng 380.000 đồng

Bình luận của bạn

Bình luận

icon icon