CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 - CÁNH CỬA MỞ RỘNG ĐI VÀO XÃ HỘI THÔNG MINH
Tháng 4/2011, tại Hội chợ Hannover (Cộng hoà liên bang Đức), Chính phủ Đức đã công bố khái niệm và sáng kiến Công nghiệp 4.0 (Industry 4.0, sau đó thường gọi là cách mạng công nghiệp lần thứ Tư). Đây là một Dự án chiến lược công nghệ cao nhằm tự động hoá và máy tính hoá ngành sản xuất, thông qua Internet vạn vật (IoT) và Hệ thống không gian mạng thực - thực (Real - Real Network).
Sau sự kiện này, nhiều quốc gia đã chủ trương phải tiếp cận ngay Industry 4.0. Lộ trình tiếp cận của mỗi quốc gia là riêng biệt, không có khuôn mẫu chung, song, tất cả các quốc gia đều phải dựa vào nhân tố khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ bằng kinh nghiệm và năng lực sẵn có của mình.
Việt Nam sớm nắm bắt cơ hội này. Ngày 27/9/2019, Đảng đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách tham gia Cách mạng 4.0. Ngày 3/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 749/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia.
Cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên nền tảng kỹ thuật chính:
Internet vạn vật (IoT): Trong sản xuất, Internet vạn vật biến các máy móc, thiết bị và các sản phẩm từ những "vật thể" hoạt động riêng lẻ thành một hệ thống, có thể cảm nhận - kết nối - trao đổi dữ liệu - tự động điều chỉnh.
Trí tuệ nhân tạo (AI): Trí tuệ nhân tạo giúp vào việc tối ưu hóa quy trình sản xuất, tự động hóa các dây chuyền phức tạp; bảo trì dự đoán (Predictive Maintenance); kiểm soát chất lượng (Quality Control) như ứng dụng thị giác máy tính (Computer Vision), dự báo chính xác nhu cầu thị trường, tạo ra các Robot cộng tác (Cobots) và đưa ra những bản sao số (Digital Twin) để theo dõi vòng đời thiết bị, thử nghiệm các phương án vận hành.
Dữ liệu lớn (Big Data): Dữ liệu lớn đóng vai trò là "chìa khoá vàng" giúp tối ưu hoá hiệu suất, giảm thiểu chi phí, thúc đẩy đổi mới trong hệ thống sản xuất hiện đại. Dữ liệu lớn theo dõi sát các thông số trong dây chuyền sản xuất, phát hiện sớm các dấu hiệu hỏng hóc, giảm tỷ lệ phế phẩm, nâng cao độ đồng đều của hàng hoá.
Điện toán đám mây (Cloud Computing): Điện toán đám mây góp phần quan trọng trong quản lý dữ liệu thời gian thực; tối ưu hoá chi phí (CAPEX sang OPEX), cắt giảm chi phí đầu tư phần cứng, máy chủ vật lý và giảm chi phí bảo trì định kỳ; Quản lý chuỗi cung ứng và kho bãi...
Hệ thống thực - ảo (Physical - Cyber Systems): Hệ thống này là cốt lõi và là nền tảng trung tâm của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hay sản xuất thông minh: Tạo ra những nhà máy thông minh, liên kết và tự động hoá hoàn toàn các thiết bị, máy móc, giám sát dữ liệu thời gian thực, phát hiện sự bất thường trên dây chuyền và giảm thời gian ngừng máy....
Công nghệ chuỗi khối (Blockchain): Vai trò cốt lõi của chuỗi khối là minh bạch hoá chuỗi cung ứng, chống gian lận, tự động hoá quy trình trong hệ thống sản xuất: Truy xuất nguồn gốc minh bạch; Quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả; Bảo mật và chống hàng giả.
Công nghệ vật lý tiên tiến: Robot tự hành (Như xe tự hành AGV - Automated Guided Vehicle và Robot di động tự hành AMR - Autonomous Mobile Robot) có tác dụng trong việc tự động hoá vận chuyển nội bộ, tối ưu dòng nguyên liệu, nâng cao độ an toàn lao động.
In 3D (Sản xuất bồi đắp): Công nghệ in 3D là một cuộc cách mạng trong hệ thống sản xuất nhờ tạo mẫu nhanh, giảm lãng phí vật liệu, tự do thiết kế các hình học phức tạp, tiết kiệm tài nguyên, hạn chế tối đa rác thải...
Vật liệu nano: Đóng vai trò cốt lõi trong sản xuất các sản phẩm có kích thước siêu nhỏ (1-100 nanomet), tối ưu hoá độ bền và trọng lượng sản phẩm, đặc biệt trong ngành điện tử và bán dẫn...
Các doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn đều thấy phải nhanh chóng tiếp cận Industry 4.0 vì 3 lý do cơ bản: Giảm thời gian dừng máy; Tối ưu năng suất và tiêu hao năng lượng; Nâng cao hiệu quả bảo trì.
Chủ trương xây dựng và phát triển xã hội thông minh của Nhật Bản
Khi người Đức công bố Industry 4.0 thì ánh hào quang của kỷ nguyên số trở nên rực rỡ trong nền văn minh nhân loại, nhưng kỷ nguyên Trí tuệ nhân tạo đã "gối đầu" lên kỷ nguyên số ở một số quốc gia. Bản thân Industry 4.0 ở Đức cũng đứng trên cột trụ của AI.
Vào thời điểm đó, người Nhật đã tính đến một bước tiến xa hơn. Tháng 1/2016, chính phủ Nhật Bản đã chính thức chủ trương phát triển mô hình Smart Society (Xã hội thông minh) và gọi là Xã hội 5.0 khi mà Nội các Nhật thông qua kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ 5 năm (2016-2020).
Xã hội thông minh của Nhật Bản nhằm kết hợp không gian mạng (Cyberspace) với không gian vật lý (Physical Space) để cân bằng giữa phát triển kinh tế và giải quyết hiệu quả những vấn đề cấp bách trong xã hội Nhật.
Mục tiêu cốt lõi của Xã hội thông minh ở Nhật là:
- Khắc phục thách thức nhân khẩu học: giải quyết tình trạng già hoá dân số nhanh chóng, thiếu hụt lực lượng lao động.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống: Đảm bảo an toàn, an ninh, sức khoẻ và mang lại hạnh phúc cho mọi người dân thông qua y tế từ xa, nhà ở thông minh và trợ lý Robot.
- Phát triển bền vững: Ứng dụng công nghệ để giải quyết các vấn đề môi trường, năng lượng, khan hiếm lương thực và bất bình đẳng xã hội.
- Đổi mới tăng trưởng: Chuyển đổi số từ mục đích đơn thuần thành phương tiện phục vụ con người, giúp nền kinh tế vươn lên mạnh mẽ và linh hoạt.
So sánh chi tiết Công nghiệp 4.0 và Công nghiệp 5.0
So sánh Công nghiệp 4.0 và Công nghiệp 5.0 cho thấy, xã hội 5.0 không chỉ là bước tiến của công nghệ, mà là bước chuyển của văn minh nhân loại: Từ xã hội lấy công nghệ làm trung tâm sang xã hội lấy con người làm trung tâm, nơi trí tuệ con người và trí tuệ nhân tạo cùng kiến tạo tương lai thông minh, bao trùm và nhân văn.
Xu thế toàn cầu của xã hội 5.0 là: Công nghệ càng thông minh thì con người càng phải nhân văn; AI càng mạnh, năng lực và trách nhiệm xã hội của con người càng lớn.
NHỮNG NĂNG LỰC CỐT LÕI CỦA NGƯỜI LÀM KHUYẾN HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ PHÁT TRIỂN
Trong giai đoạn Industry 4.0 phát triển, người làm khuyến học cần luôn nghĩ đến những hoạt động khuyến học ngày càng thông minh hơn. Do đó, họ không chỉ có năng lực vận động học tập theo bài bản đã từng làm trong nhiều năm qua, mà rất cần phải có những năng lực mới để dắt dẫn người dân học tập, làm chủ công nghệ và chuyển hóa tri thức thành năng lực lao động, năng lực sáng tạo trong đời sống số, cùng hoạt động với trí tuệ nhân tạo.
Có những năng lực cốt lõi sau đây mà người làm khuyến học phải phấn đấu có được:
1. Năng lực tư duy hệ thống và tư duy chuyển đổi: Hiểu được mối liên hệ giữa công nghệ số, AI, IoT, dữ liệu lớn, tự động hóa với sự biến đổi của sản xuất, việc làm, văn hoá và giáo dục. Từ đó, nhận ra rằng, khuyến học phải đổi mới về tư duy, tổ chức và phương thức hoạt động.
2. Năng lực số và năng lực sử dụng AI: Biết sử dụng điện thoại thông minh, các ứng dụng số và trợ lý AI; biết đặt câu hỏi, kiểm tra thông tin; bảo vệ dữ liệu cá nhân và vận dụng AI vào công việc khuyến học. Người vận động học tập cần thực hành được trước khi hướng dẫn người khác.
3. Năng lực tổ chức học tập suốt đời: Hiểu nhu cầu, động cơ, điều kiện học tập của từng nhóm dân cư; tổ chức việc học linh hoạt, gắn với công việc và đời sống. Đặc biệt, biết khuyến khích người dân học tập theo nhu cầu, học đến đâu ứng dụng đến đó, thay vì chờ những khoá học dài hạn.
4. Năng lực sư phạm người lớn (sư phạm cộng đồng) và kết nối xã hội: Biết hướng dẫn người cao tuổi, nông dân, công nhân và lao động phi chính thức tiếp cận công nghệ phù hợp với khả năng của họ; kết nối gia đình, dòng họ, cộng đồng, nhà trường, doanh nghiệp và các thiết chế học tập.
5. Năng lực phát hiện nhu cầu và giải quyết vấn đề thực tiễn: Biết xác định người dân cần học gì để giải quyết những vấn đề cụ thể: nông dân cần kiến thức về mùa vụ và thị trường nông sản; người kinh doanh nhỏ cần kỹ năng bán hàng số, người lao động cần nâng cao tay nghề và thích ứng với tự động hóa. Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi tạo ra giá trị thực tế.
6. Năng lực phản biện và đạo đức số: Biết đánh giá độ tin cậy của thông tin do AI cung cấp, nhận diện thông tin sai lệch, thiên kiến và rủi ro về quyền riêng tư, đề cao trách nhiệm con người, tính trung thực và sự công bằng trong tiếp cận tri thức.
7. Năng lực đổi mới, hợp tác và đánh giá hiệu quả: Biết thử nghiệm mô hình khuyến học mới, huy động nguồn lực, hợp tác với các tổ chức công nghệ và cơ sở giáo dục; đánh giá kết quả bằng năng lực thực tế mà người dân đạt được, mức độ ứng dụng công nghệ và khả năng tự học lên cao, không chỉ bằng số buổi học hay số người tham dự.
Trong kỷ nguyên Industry 4.0, khuyến học làm cho cộng đồng dân cư biết học tập trên những ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để giải quyết công việc và đời sống thì khuyến học đã thông minh hơn trước.
KHUYẾN HỌC THÔNG MINH HƠN SẼ GIÚP THAY ĐỔI CẤU TRÚC XÃ HỘI HỌC TẬP THÔNG MINH HƠN
Trong điều kiện công nghệ số và trí tuệ nhân tạo định hình lại giáo dục, xã hội học tập truyền thống (Traditional Learning Society) sẽ dịch chuyển sang xã hội học tập ngày càng thông minh hơn (Smart Learning Society). Cấu trúc bản chất của nó thay đổi toàn diện từ mô hình phân cấp, tuyến tính sang mô hình mạng lưới phi tập trung và cá nhân hóa ngày càng sâu hơn.
Sự khác biệt cốt lõi về cấu trúc truyền thống và cấu trúc thông minh.
Mô hình khuyến học giờ đây cùng với mô hình xã hội học tập vẫn trong khuôn khổ của các Quyết định 1373/QĐ-TTg, 387/QĐ-TTg và 677/QĐ-TTg.
Nội dung của bài viết này chỉ là một giả định về hướng tái định hình khuyến học trên mô hình lý thuyết. Tuy nhiên, khi Nghị quyết 71-NQ/TW yêu cầu khuyến học phải chuyển biến theo hướng thông minh, thì đương nhiên xã hội học tập thông minh sẽ là một xu thế không thể khác.
Nói cách khác, khuyến học truyền thống phải thay đổi một cách tự giác để phù hợp với tình hình mới.





