Công dân khuyến học

Chính sách mới về y tế hiệu lực từ tháng 7/2026

Chính sách mới về y tế hiệu lực từ tháng 7/2026

Quang Minh

Quang Minh

14:27 - 27/06/2026
Công dân & Khuyến học trên

Bộ Y tế thông tin từ 1/7/2026, nhiều chính sách mới liên quan đến y tế sẽ chính thức có hiệu lực thi hành, người dân cần quan tâm, lưu ý.

Người tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên sẽ được quỹ chi trả 100% chi phí. Ảnh minh họa: IT

Người tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên sẽ được quỹ chi trả 100% chi phí. Ảnh minh họa: IT

Nhiều chính sách mới trong chăm sóc sức khỏe người dân

Luật Phòng bệnh 2025, số 114/2025/QH15 quy định về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; phòng, chống bệnh không lây nhiễm; phòng, chống rối loạn tâm thần; dinh dưỡng trong phòng bệnh; điều kiện bảo đảm để phòng bệnh mở ra cơ hội cho nhiều đối tượng khi được sửa đổi mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh.

Luật Phòng bệnh được ban hành đã thể chế hóa đầy đủ, toàn diện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phòng bệnh, được khẳng định trong Hiến pháp: Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám, chữa bệnh; cũng như Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới…

Luật Phòng bệnh cũng bổ sung quy định người dân được hưởng chính sách khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần theo nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên để hiện thực hóa Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó có nêu rõ mục tiêu: “Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần”.

Mở rộng quyền lợi, điều chỉnh mức hưởng bảo hiểm y tế từ ngày 1/7/2026

Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, nhiều quy định về chính sách bảo hiểm y tế có lợi được thực hiện, trong đó ưu tiên mở rộng quyền lợi người tham gia, đồng thời cập nhật mức hưởng, mức đóng theo mức lương cơ sở mới. 

Cụ thể, từ ngày 1/7/2026, người bệnh khám chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu, tùy theo loại hình cơ sở đã được cơ quan có thẩm quyền xác định, sẽ được quỹ bảo hiểm y tế chi trả 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh còn lại ngoài danh mục quy định tại Thông tư số 01/2025/TT-BYT, thay vì chưa được thanh toán như trước. Quy định này góp phần giảm gánh nặng chi phí, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn để người dân tiếp cận các dịch vụ y tế.

Ngoài ra, mức lương cơ sở được điều chỉnh lên 2,53 triệu đồng/tháng làm căn cứ tính toán nhiều quyền lợi bảo hiểm y tế. Theo đó, người tham gia được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh nếu chi phí một lần thấp hơn 15% mức lương cơ sở (tương đương 379.500 đồng). 

Đồng thời, người tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên sẽ được quỹ chi trả 100% chi phí trong phạm vi hưởng khi số tiền cùng chi trả trong năm vượt quá 6 lần mức lương cơ sở (tương đương 15.180.000 đồng).

Quy chế hỗ trợ với nhân viên y tế

Chính phủ ban hành Nghị định 192/2026/NĐ-CP quy định chế độ hỗ trợ hằng tháng với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản.

Nghị định 192/2026/NĐ-CP Quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù trong lĩnh vực y tế; hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản có hiệu lực từ ngày 15/7/2026. Cụ thể quy định như sau:

"1. Trong thời gian công tác, nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản được hỗ trợ hằng tháng.

2. Mức hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản bằng 0,7 lần hoặc 0,5 lần so với mức lương cơ sở, được quy định như sau:

a) Mức 0,7 lần áp dụng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản làm việc tại: các thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên; các thôn, bản tại các xã vùng khó khăn theo quy định của Chính phủ; các tổ dân phố, khu phố có từ 500 hộ gia đình trở lên;

b) Mức 0,5 lần áp dụng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản làm việc tại thôn, bản, tổ dân phố còn lại.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu thực tế và khả năng ngân sách của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xác định cụ thể số lượng nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản; quy định cụ thể mức hỗ trợ cụ thể hằng tháng của nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn bản nhưng không thấp hơn mức hỗ trợ quy định tại khoản 2 Điều này".

Các trường hợp được bồi thường khi sử dụng vắc xin

Điều 50 Nghị định 165/2025/NĐ-CP quy định các trường hợp được bồi thường khi sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong Chương trình tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng chống dịch cụ thể:

Thứ nhất, các đối tượng thuộc diện tiêm chủng bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 165/2026/NĐ-CP phải tham gia tiêm chủng. Trong trường hợp tham gia tiêm chủng mà xảy ra tai biến ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe hoặc tính mạng thì được Nhà nước bồi thường.

Thứ hai, các trường hợp được Nhà nước bồi thường theo trường hợp thứ nhất, bao gồm:

Người được tiêm chủng bị tai biến nặng sau khi tiêm chủng để lại di chứng dẫn đến khuyết tật;

Người được tiêm chủng bị tử vong.

Căn cứ Điều 51 Nghị định 165/2026/NĐ-CP, trường hợp người được tiêm chủng bị khuyết tật do tai biến nặng sau tiêm chủng thì được bồi thường bằng 30 lần mức lương cơ sở tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Đối với trường hợp người được tiêm chủng tử vong, Nhà nước chi trả các khoản gồm chi phí mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và khoản bù đắp tổn thất về tinh thần với mức 100 triệu đồng.

Ngoài ra, Điều 51 Nghị định 165/2026/NĐ-CP cũng quy định Nhà nước thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp bị tai biến sau tiêm chủng mà chưa được quỹ bảo hiểm y tế chi trả.

Nghị định chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.

Hỗ trợ 2 triệu đồng/phụ nữ khi sinh con

Theo điểm c khoản 1 Điều 3 Nghị định 168/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/7, quy định phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi được hỗ trợ tài chính tối thiểu 2 triệu đồng/phụ nữ khi sinh con. Ngoài ra, phụ nữ sinh con cũng được hỗ trợ tối thiểu 2 triệu đồng khi thuộc các trường hợp sau:

Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người;

Phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế.

Việc hỗ trợ kinh phí được thực hiện thông qua Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Cơ quan này căn cứ thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các cơ sở dữ liệu có sẵn để quyết định hỗ trợ và chi trả cho phụ nữ sinh con cùng thời điểm đăng ký khai sinh. Kinh phí hỗ trợ do ngân sách địa phương bảo đảm.

Bên cạnh chính sách hỗ trợ tài chính khi sinh con, Nghị định 168/2026/NĐ-CP cũng quy định về chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai. Theo đó, trường hợp sinh con thứ 2, lao động nữ được nghỉ thai sản 7 tháng; lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con, nếu đáp ứng điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Ngoài ra, Nghị định còn quy định phụ nữ mang thai được khám và thực hiện sàng lọc trước sinh đối với 4 bệnh cơ bản gồm: Hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau và bệnh Thalassemia. Trẻ sơ sinh được sàng lọc 5 bệnh cơ bản gồm: Suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh và bất thường tim bẩm sinh nặng.

Mức hỗ trợ khám sàng lọc trước sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không quá 900.000 đồng/trường hợp; sàng lọc sơ sinh tối đa không quá 600.000 đồng/trường hợp. Từ ngày 1/7 đến hết ngày 31/12/2026, chính sách này ưu tiên áp dụng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội, người dân tại địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo. Từ ngày 1/1/2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được hưởng hỗ trợ theo quy định.

Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng được điều chỉnh tăng thêm 8%

Theo quy định tại Điều 3 Thông tư 14/2026/TT-BNV, từ ngày 1/7/2026, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng được điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6/2026.

Trường hợp nghỉ việc hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng trước ngày 1/1/1995 sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% mà có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì điều chỉnh như sau:

– Đối với người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng sau khi thực hiện điều chỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều này bằng hoặc thấp hơn 3.500.000 đồng/tháng thì được điều chỉnh tăng thêm 300.000 đồng/tháng.

– Đối với người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng sau khi thực hiện điều chỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều này cao hơn 3.500.000 đồng/tháng nhưng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì được điều chỉnh tăng lên bằng 3.800.000 đồng/tháng.

Đối tượng đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng, trợ cấp phục vụ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước ngày 1/7/2026 thì mức hưởng trợ cấp tuất hàng tháng từ ngày 1/7/2026 được tính theo mức lương cơ sở quy định tại Nghị định số 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí

Chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí theo quy định mới tại Thông tư 16/2026/TT-BYT có hiệu lực từ 10/7 như sau:

– Chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí được thực hiện trên cơ sở văn bản thỏa thuận giữa cơ sở kinh doanh dược và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Điều 3 Thông tư này

– Việc thực hiện chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí theo khả năng hỗ trợ của cơ sở kinh doanh dược, không phải nghĩa vụ bảo đảm đủ toàn bộ thuốc điều trị cho người bệnh; phải bảo đảm không thu tiền hoặc kèm theo điều kiện thương mại ràng buộc người bệnh; không tác động đến việc lựa chọn phương pháp điều trị, chỉ định sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả cho người bệnh.

– Thuốc trong chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí phải được lưu hành hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về dược.

– Chỉ định sử dụng thuốc và kê đơn thuốc phải phù hợp với một trong các tài liệu sau đây:

Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đã được Bộ Y tế phê duyệt;

Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận;

Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông tư 21/2013/TT-BYT.

Dược thư Quốc gia phiên bản mới nhất.

– Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí phải có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với chỉ định sử dụng thuốc trong chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí.

– Đối tượng được hỗ trợ là người bệnh đã được chẩn đoán xác định bệnh, được chỉ định và kê đơn sử dụng thuốc phù hợp với chỉ định của thuốc thuộc chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí và tự nguyện tham gia.

– Quỹ Bảo hiểm y tế không thanh toán đối với số lượng thuốc hỗ trợ miễn phí đã sử dụng cho người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế.

Danh mục bệnh phải sử dụng vắc xin

Danh mục bệnh phải sử dụng vắc xin có thêm 1 số bệnh dịch mới cần chú ý từ tháng 7/2026, thông qua Chương trình tiêm chủng mở rộng. Danh mục bệnh phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong tiêm chủng bắt buộc gồm:

Bệnh viêm gan vi rút B;

Bệnh lao;

Bệnh bạch hầu;

Bệnh ho gà;

Bệnh uốn ván;

Bệnh bại liệt;

Bệnh do Haemophilus influenzae týp b;

Bệnh sởi;

Bệnh rubella;

Bệnh viêm não Nhật Bản;

Bệnh tiêu chảy do vi rút Rota;

Bệnh do phế cầu;

Bệnh do vi rút HPV ở người;

Bệnh khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Ngoài ra, Thông tư 13/2026/TT-BYT cũng quy định việc tổ chức tiêm chủng thường xuyên, tiêm chủng bù liều, tiêm chủng chiến dịch chủ động và tiêm chủng chống dịch; chế độ thông tin, báo cáo về hoạt động tiêm chủng; việc quản lý đối tượng tiêm chủng và Hội đồng tư vấn chuyên môn đánh giá nguyên nhân tai biến nặng trong quá trình sử dụng vắc xin, sinh phẩm./.

Bình luận của bạn

Bình luận

icon icon