"Bút thép, lòng son" - chuyên đề trưng bày về lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam
Ngày 16/6, Ban Quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò tổ chức ra mắt trưng bày chuyên đề "Bút thép, lòng son" tôn vinh những chiến sĩ cách mạng kiên trung, dù bị giam cầm trong nhà tù thực dân, đế quốc vẫn giữ vững khí tiết, dùng ngòi bút để đấu tranh và xuất bản báo chí.



Nhân kỷ niệm 101 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Di tích Nhà tù Hỏa Lò trưng bày cũng là lời tri ân những nhà báo, chiến sĩ đã hy sinh xương máu, cống hiến quên mình cho sự nghiệp vẻ vang của nền báo chí cách mạng Việt Nam.
Chuyên đề "Bút thép, lòng son" được giới thiệu đến du khách đến ngày 15/11/2026 tại Di tích lịch sử Nhà tù Hỏa Lò, số 1 phố Hỏa Lò, phường Cửa Nam, Hà Nội. Khách tham quan có thể quét mã QR để nghe thuyết minh trực tiếp toàn bộ nội dung trưng bày.
Trưng bày chuyên đề "Bút thép, lòng son" gồm có các nội dung: Báo chí cách mạng Việt Nam - Những dấu mốc lịch sử; "Bút thép, Lòng son"; Ngòi bút sau song sắt; Xông pha trong lửa đạn; Tòa soạn nơi chiến hào; Hóa thân cho tổ quốc; Tiếp nối dòng chảy.
Giữa chốn ngục tù khắc nghiệt hay nơi chiến trường ác liệt, báo chí cách mạng Việt Nam vẫn được biên soạn, in ấn và lưu hành. Thiếu thốn về điều kiện vật chất, những tờ báo thủ công vẫn được bí mật xuất bản.
Qua từng trang báo, người chiến sĩ cầm bút kịp thời truyền tải thông tin, thắp lên niềm tin và ý chí chiến đấu, biến ngòi bút thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng. Tất cả được hun đúc từ trí tuệ, lòng dũng cảm và tinh thần trách nhiệm của những người cầm bút.
Trong hoàn cảnh tù đày, bất chấp đòn roi của kẻ thù, các chiến sĩ cách mạng đã dùng ngòi bút để "bẻ gãy" gông cùm, tuyên truyền cách mạng và cổ vũ phong trào đấu tranh chống chế độ giam cầm hà khắc.
Dưới sự chỉ đạo của các tổ chức Đảng, tù chính trị đã mưu trí, sáng tạo trong việc biên soạn, xuất bản và phát hành những tờ báo bí mật bằng nhiều phương thức chưa từng có. Những "tờ báo" ấy đã góp phần "cất cao tiếng nói" của người tù trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, lớp lớp nhà báo hăng hái ra trận. Nhiều người đã ngã xuống nơi chiến trường khi lao vào nguy hiểm để có được những thước phim, bức ảnh chân thực.
Có nhà báo hy sinh khi trên tay còn ôm hộp phim, đôi mắt nhìn thẳng lên bầu trời đầy bom đạn. Máu của các nhà báo - liệt sĩ thấm trong mỗi tin tức được gửi về từ chiến trường khốc liệt, góp phần làm nên những chiến thắng vĩ đại của dân tộc.



Không gian trưng bày của Chuyên đề "Bút thép, lòng son".
Tại trưng bày "Bút thép, lòng son"; Ban Quản lý di tích Nhà tù Hỏa Lò đã lựa chọn và giới thiệu đến công chúng 5 nhà báo cách mạng tiêu biểu:
Nhà báo Trần Kim Xuyến (1921-1947), đại biểu Quốc hội khóa I, Phó Giám đốc Nha Thông tin Việt Nam. Ông là nhà báo đầu tiên của Việt Nam Thông tấn xã (nay là Thông tấn xã Việt Nam) và nền báo chí cách mạng Việt Nam hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Sáng ngày 3/3/1947, khi phát hiện đài phát sóng của ta ở chùa Trầm, thực dân Pháp huy động quân giới ào ạt tấn công, nhà báo Trần Kim Xuyến đã tình nguyện ở lại, đạp xe đi các nơi để chỉ huy việc sơ tán tài liệu.
Gặp máy bay và xe tăng địch đến khủng bố, ông vẫn bình tĩnh, can đảm đưa tài liệu đến nơi cất giữ kín đáo. Khi vừa hoàn thành nhiệm vụ, ông bị trúng đạn, hy sinh tại xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
Trước khi chết, ông còn cố gắng hô to: "Việt Nam hoàn toàn độc lập muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!".
Nhà báo Bùi Đình Túy (1914-1967), bút danh Đinh Thúy, phóng viên ảnh, Phó Chủ nhiệm Phân xã nhiếp ảnh của Việt Nam Thông tấn xã. Ông là người nhanh nhạy, xông xáo, đa tài và không nề hà hiểm nguy nơi chiến trường.
Năm 1965, ông được điều động vào chiến trường miền Nam, giữ chức Phó Giám đốc Thông tấn xã Giải phóng. Ngày 21/9/1967, ông được phân công đưa tin về Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua, Dũng sĩ các Lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam Việt Nam lần thứ hai, tổ chức tại vùng giải phóng.
Sau khi Đại hội kết thúc, trên đường về căn cứ, nhà báo Bùi Đình Túy bị trúng bom Mỹ và hy sinh.
Nhà báo Phạm Thị Ngọc Huệ (1946-1968) từng thi đỗ khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nhưng tình nguyện ra chiến trường. Bà công tác tại binh trạm 36, Đại đội Thanh niên xung phong Ninh Bình, làm nhiệm vụ giữ cho tuyến đường chiến lược 20 Quyết Thắng luôn thông suốt.
Sau khi đường được thông suốt, bà xin ở lại tiếp tục chiến đấu và được chuyển sang Ban Tuyên huấn Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn. Ở Đoàn 559, bà làm phóng viên báo Trường Sơn, cơ quan tuyên truyền của Bộ Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn.
Sáng ngày 20/12/1968, nhà báo Phạm Thị Ngọc Huệ đã anh dũng hy sinh khi cùng đơn vị vượt trọng điểm Ka Tốc thuộc địa phận huyện Bua La Pha, tỉnh Khăm Muộn, Lào.
Nhà báo Dương Thị Xuân Quý (1941-1969) là phóng viên báo Phụ nữ Việt Nam. Năm 1965, bà viết đơn tình nguyện vào chiến trường miền Nam. Tại chiến trường Khu 5, bà luôn xung phong tới các vùng trọng điểm đang diễn ra các cuộc giao tranh ác liệt với quân thù để đưa tin, viết bài.
Đêm 8/3/1969, bà anh dũng hy sinh tại xã Xuyên Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam trong một trận càn ác liệt của địch. Ngã xuống ở tuổi 28, nhà báo Dương Thị Xuân Quý để lại nhiều tác phẩm có giá trị như: Chỗ đứng (truyện, 1968), Gương mặt thách thức (bút ký, 1969), Hoa rừng (tập truyện ký, 1970)… Năm 2007, bà được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.
Nhà báo Lương Nghĩa Dũng (1934-1972) là phóng viên chiến trường của Việt Nam Thông tấn xã, nổi tiếng với nhiều bức ảnh mang giá trị lịch sử.
Năm 1967, ông trở thành một trong những phóng viên chủ lực của Tổ ảnh Quân sự, Phân xã Nhiếp ảnh thuộc Việt Nam Thông tấn xã. Ông hăng hái đi đến các chiến trường, chụp nhiều bức ảnh ghi lại những khoảnh khắc chiến đấu kiên cường của quân và dân ta.
Mùa hè năm 1972, nhà báo Lương Nghĩa Dũng hy sinh trên mặt trận Quảng Trị. Năm 2017, ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh với bộ ảnh "Những khoảnh khắc để lại".
Trong phạm vi trưng bày, câu chuyện về sự hy sinh anh dũng của những nhà báo chiến trường: Trần Kim Xuyến, Bùi Đình Tuý, Phạm Thị Ngọc Huệ, Dương Thị Xuân Quý, Lương Nghĩa Dũng góp phần khắc họa tinh thần dấn thân, lòng quả cảm và sự cống hiến của nhà báo cho sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam.
Nguồn: Di tích nhà tù Hoả Lò
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.
Đăng nhập để tham gia bình luận
Đăng nhập với
Facebook Google