Công dân khuyến học

Bỏ một môn thi, áp lực vào lớp 10 có thực sự giảm?

Bỏ một môn thi, áp lực vào lớp 10 có thực sự giảm?

Phan Anh

Phan Anh

11:54 - 19/08/2026
Công dân & Khuyến học trên

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến về dự thảo quy định tuyển sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, trong đó đề xuất học sinh thi Toán và Ngữ văn nếu tuyển sinh lớp 10 bằng phương thức thi tuyển.

Bỏ một môn thi, áp lực vào lớp 10 có thực sự giảm? - Ảnh 1.

Thi vào lớp 10 - số lượng môn thi có phải là gốc rễ gây ra áp lực? Ảnh: Đỗ Ngọc Ánh

Dự thảo vẫn giữ ba phương thức gồm thi tuyển, xét tuyển và kết hợp, đồng thời cho phép địa phương lựa chọn phương thức phù hợp với thực tế. Đề xuất này cần được xem xét trên cơ sở mục tiêu tuyển sinh, cách đánh giá năng lực học sinh và khả năng giảm áp lực cho người học.

Thứ nhất, giảm một môn thi có thể làm kỳ thi nhẹ hơn nhưng chưa chắc làm giảm áp lực cạnh tranh. Nếu số học sinh muốn vào một số trường vượt quá số lượng chỗ học, sự cạnh tranh vẫn còn dù thi hai hay ba môn. Khi chỉ còn Toán và Ngữ văn, áp lực có thể dồn vào hai môn này. Mỗi điểm số vì thế càng trở nên quan trọng, thậm chí chênh lệch rất nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến cơ hội trúng tuyển của học sinh.

Bỏ môn thi thứ ba cũng khiến nhiều phụ huynh và giáo viên lo học sinh sẽ giảm thời gian dành cho những môn không được sử dụng để xét tuyển, nhất là Ngoại ngữ. Lo ngại này có cơ sở, bởi những môn gắn với kỳ thi tuyển sinh thường được học sinh đầu tư nhiều hơn. Tuy nhiên, cũng cần có dữ liệu để xác định việc đưa một môn vào kỳ thi có thực sự giúp học sinh học tốt môn đó hơn hay chỉ làm tăng áp lực học và luyện thi.

Trong kỳ tuyển sinh vừa qua, khoảng 30 tỉnh, thành tổ chức thi tuyển đều chọn Tiếng Anh làm môn thứ ba. Từ thực tế này, có thể đặt ra câu hỏi liệu Tiếng Anh có giúp phân loại học sinh tốt hơn hay không, và điểm số môn này có giúp dự đoán khả năng học tập ở trung học phổ thông hay không. Nếu tác dụng không đáng kể trong khi việc thi thêm môn làm tăng áp lực học tập, học thêm và luyện thi, việc bỏ môn thi thứ ba có thể là lựa chọn hợp lý.

Thứ hai, số môn thi không phải nguyên nhân gốc của áp lực vào lớp 10. Theo số liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu, năm học vừa qua cả nước có khoảng 1,5 triệu học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và gần 1,2 triệu suất học lớp 10, tương đương tỷ lệ đỗ khoảng 79,3%. Tuy nhiên, con số bình quân toàn quốc chưa phản ánh đầy đủ áp lực tại từng địa bàn.

Có địa phương vẫn còn hàng nghìn chỉ tiêu trung học phổ thông công lập sau đợt tuyển sinh chính, trong khi một số đô thị và trường có sức hút lớn lại có mức cạnh tranh rất cao. Sự chênh lệch ấy cho thấy bài toán tuyển sinh không chỉ nằm ở số lượng chỗ học.

Một học sinh có thể vẫn còn cơ hội vào lớp 10 nhưng lại phải học ở một trường cách xa nơi cư trú, không phù hợp với điều kiện đi lại hoặc chưa đáp ứng được mong muốn về môi trường và chất lượng giáo dục. Ở miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo, khoảng cách địa lý cùng điều kiện kinh tế - xã hội còn làm bài toán phức tạp hơn.

Muốn giảm áp lực thực sự, cần tạo thêm nhiều cơ hội học tập phù hợp cho học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở. Nâng chất lượng giữa các trường, quy hoạch mạng lưới trường lớp theo biến động dân số và làm cho giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên trở thành những lựa chọn có chất lượng là những việc cần được đặt song song với cải tiến kỳ thi.

Thứ ba, xác định mục tiêu đánh giá trước khi quyết định số môn thi là vấn đề quan trọng nhất trong xây dựng chính sách tuyển sinh. Trước khi quyết định thi môn nào, cần xác định rõ kỳ tuyển sinh muốn đánh giá năng lực gì ở học sinh và cần những thông tin nào để lựa chọn học sinh một cách công bằng, chính xác.

Nếu mục tiêu là lựa chọn học sinh có khả năng đáp ứng chương trình trung học phổ thông, cần kiểm định xem Toán và Ngữ văn dự báo kết quả học tập sau đó đến đâu. Nếu thêm Ngoại ngữ, khả năng dự báo có được cải thiện đáng kể hay không cũng cần được xác định bằng dữ liệu.

Nếu dùng kết quả học tập trong học bạ làm căn cứ quan trọng để tuyển sinh, cũng cần xem xét kỹ độ tin cậy của điểm số. Điểm giỏi ở các trường khác nhau chưa chắc có cùng ý nghĩa nếu cách đánh giá và mặt bằng chất lượng còn chênh lệch. Muốn sử dụng kết quả học tập như một căn cứ tuyển sinh quan trọng, cần có cách kiểm tra và so sánh kết quả học tập giữa các trường để bảo đảm điểm số phản ánh đúng năng lực của học sinh.

Cách làm hợp lý là trước hết xác định mục tiêu tuyển sinh, sau đó xác định những năng lực cần đánh giá, lựa chọn cách đánh giá phù hợp và dùng dữ liệu để kiểm chứng. Từ những căn cứ đó mới quyết định nên thi bao nhiêu môn. Nếu quyết định số môn thi trước rồi mới tìm lý do để giải thích thì khó bảo đảm chính sách tuyển sinh có cơ sở khoa học.

Bình luận của bạn

Bình luận

icon icon