Hội Khuyến học Việt Nam góp phần xây dựng "Quốc gia hạnh phúc"

GS.TS Phạm Tất Dong
14:43 - 12/03/2026

Xây dựng "Quốc gia hạnh phúc" (Happy Nation) không chỉ đơn thuần là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia về phương diện giàu có vật chất, mà còn chứa đựng ý tưởng cao cả về sự phát triển toàn diện về đời sống tinh thần và đời sống thể chất của từng công dân, hướng tới một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.

Hội Khuyến học Việt Nam góp phần xây dựng "Quốc gia hạnh phúc" - Ảnh 1.
Thế giới hiện đại với cuộc chạy đua đạt danh hiệu "Quốc gia hạnh phúc"  

Những khía cạnh quan trọng của Quốc gia hạnh phúc là:

Đời sống vật chất và tinh thần phong phú. Đời sống cá nhân luôn được cải thiện, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa luôn được đáp ứng. Trong xã hội, ai ai cũng no ấm, được học hành, được tôn trọng và được trao quyền đúng với năng lực của mình.

- Mọi trẻ em và người lớn đều có cơ hội học hành theo nhu cầu, được bình đẳng về điều kiện giáo dục - đào tạo, được công bằng về cơ hội học hành, không ai bị bỏ lại sau sự phát triển giáo dục - đào tạo.

- Các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy, được tiếp cận với nền văn hóa đa dạng của thế giới hiện đại. Con người được khuyến khích sáng tạo trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, vui chơi và giải trí.

- Cộng đồng dân cư là một khối gắn kết, đồng thuận, quan tâm và hỗ trợ, chia sẻ cho nhau về những giá trị vật chất và tinh thần, bảo vệ nhau trước những bất trắc trong cuộc sống.

- Xã hội phát triển bền vững, ai cũng có cơ hội phát triển toàn diện nhân cách của mình và ai cũng có những đóng góp cho sự hưng thịnh, hùng cường và hạnh phúc của xã hội.

Để đo sự phát triển của quốc gia hạnh phúc, thế giới hiện đại đưa ra khái niệm "Tổng hạnh phúc quốc gia" (Gross National Happiness - GNH) với những chỉ số đo về sự phát triển kinh tế, sự thịnh vượng của mỗi con người, sự hài lòng của công dân với các thể chế do Nhà nước ban hành, về kết quả quản trị xã hội, bảo tồn môi trường tự nhiên và sự phát triển văn hóa.

Hạnh phúc cần được hiểu rằng, đó là khát vọng, là động lực và mục đích đi tới của mọi chính sách phát triển quốc gia.

Hội Khuyến học Việt Nam góp phần xây dựng "Quốc gia hạnh phúc" - Ảnh 2.

Ở Việt Nam, giá trị của gia đình hạnh phúc luôn được coi trọng. Ảnh: Bộ VHTTDL

Tìm hiểu các chỉ số hạnh phúc của khá nhiều quốc gia trên thế giới, ta có thể thấy, họ tập trung vào những giá trị sau đây:

1. GDP trung bình tính trên đầu người là chỉ số mà người dân các nước quan tâm rất lớn. Chính phủ các nước coi chỉ số này là một yếu tố kinh tế tạo nên sự hài lòng đầu tiên của người dân.

Không ai có thể chối cãi về ước nguyện hết sức đáng quan tâm khi người dân trên khắp các lục địa muốn có mức bình quân GDP/đầu người của top 10 quốc gia hàng đầu trên thế giới (số liệu 2025):

Luxembourg : 140.914 USD

Ireland : 108.919 USD

Thụy Sỹ : 104.896 USD

Singapore : 92.392 USD

Iceland : 90.284 USD

Na Uy : 89.694 USD

Hoa Kỳ : 89.105 USD

Ma Cao : 76.314 USD

Đan Mạch : 74.969 USD

Qatar : 71.653 USD

2. Tuổi thọ cao, sức khỏe tốt là chỉ số nền tảng của cuộc sống hạnh phúc. Hầu hết, con người trong các quốc gia khi có ngày vui họ đều chúc nhau sống lâu trăm tuổi, an khang, trẻ trung. Ở đây, người sống lâu dài nhưng những năm sống hữu ích mới là yếu tố cốt lõi của tuổi thọ.

- Tờ báo The Japan Times công bố, ở Nhật Bản hiện nay, tuổi thọ trung bình của nam giới là 81,64 tuổi, ở nữ giới là 87,74 tuổi. Số các cụ già sống trên 100 năm là đạt con số ˃ 100.000. Có người sống tới 110 tuổi, trong thời gian sống thọ như vậy, họ có trên 100 năm vẫn đi lại bình thường, giao tiếp tốt, làm nhiều công việc nhẹ nhàng. Nhờ đó, đầu óc họ thoải mái, không có gì phải lo âu.

- Quốc gia có tuổi thọ cao nhất thế giới là Monaco: Tuổi thọ bình quân ở đây là 86,5 tuổi. Tuổi thọ của nữ giới cao hơn: trung bình là 88 tuổi.

- San Marino được xếp thứ hai trong các nước có tuổi thọ cao: Tuổi thọ trung bình: 85,8 tuổi.

- Singapore có tuổi thọ trung bình là 84,38 tuổi.

Người Việt Nam cũng ước mơ nâng cao tuổi thọ trong từng gia đình. Với người Việt, trong nhà có người tuổi thọ cao được coi đó là gia đình có phúc.

3. Một xã hội kết nối, người dân đồng thuận, sống trong sự hòa hợp, chia sẻ, hỗ trợ nhau, nhà nước có chính sách an sinh xã hội tốt, chế độ phúc lợi xã hội được coi trọng là một yếu tố đảm bảo hạnh phúc cho con người.

Người dân nào cũng sống trong một cộng đồng dân cư rất cụ thể. Trong cộng đồng ấy, những mối quan hệ tốt đẹp sẽ tạo nên bầu không khí tin cậy lẫn nhau, thông cảm với nhau, giúp đỡ nhau khi có người gặp khó khăn... Đó là môi trường xã hội đáng sống, đáng gắn bó suốt đời. Môi trường sống đó sẽ làm cho mỗi thành viên trong cộng đồng luôn có tâm trạng an nhiên, hài lòng và luôn muốn được gắn bó lâu dài.

4. Quyền tự quyết cho sự lựa chọn của cá nhân như tự quyết về con đường học hành và chọn nghề, tự quyết về khởi nghiệp, về hôn nhân và gia đình, quyền tự do phát biểu ý kiến và nguyện vọng... của mỗi công dân là những giá trị làm người dân hài lòng. Nhà nước tôn trọng những quyền đó, coi đó là một chỉ số về hạnh phúc của quốc gia.

Ngay từ khi còn nhỏ, công dân nào cũng được xã hội tôn trọng, giúp cho họ những kiến thức và những kỹ năng mềm mà xã hội đòi hỏi, những kỹ năng sống để cá nhân an toàn trong xã hội và những kỹ năng lao động - nghề nghiệp để trở thành công dân hữu ích.

5. Nền giáo dục hiện đại, hệ thống đào tạo tiên tiến, những thể chế giáo dục xóa bỏ mọi rào cản để con người không bị gạt bỏ ra khỏi giáo dục là chỉ số quan trọng hàng đầu về hạnh phúc. Người Việt có triết lý "Học để làm người", dân Trung Hoa quan niệm "Học hỏi, dưỡng tâm để cuộc đời tốt đẹp", cộng đồng Châu Âu luôn hướng tới khẩu hiệu "Learning to be" (Học để tồn tại, và cũng có thể dịch là "Học để làm người")... Chính vì thế, dân tộc nào cũng chăm lo có nền giáo dục phát triển, coi đó là một chỉ số hạnh phúc.

Hiện nay, thế giới công nhận những quốc gia có hệ thống giáo dục chất lượng cao, thuộc top đầu thế giới:

Hoa Kỳ: Đứng đầu bảng xếp hạng về hệ thống đại học danh tiếng, đầu tư lớn vào nghiên cứu và phát triển, đề cao giáo dục khai phóng, khuyến khích tư duy phản biện và học tập trải nghiệm.

Vương quốc Anh: Sở hữu nhiều trường đại học hàng đầu thế giới, thu hút đông đảo thanh niên từ nhiều quốc gia tới học tập.

Đức: Nổi tiếng về các trường đại học công miễn phí cho sinh viên và sự định hướng rõ ràng của hệ thống giáo dục.

Canada: Nổi tiếng về chất lượng giáo dục rất cao nhờ hệ thống kiểm định nghiêm ngặt và chặt chẽ. Tỷ lệ người có trình độ đại học vượt trội so với nhiều nước phát triển.

Pháp: Hệ thống giáo dục bảo đảm chất lượng đào tạo cao, học sinh được phân loại theo sở thích và học lực từ bậc Trung học phổ thông.

Nhật Bản: Là quốc gia Châu Á duy nhất được đánh giá cao về trình độ kỹ thuật và văn minh.

Thụy Sỹ: Nền giáo dục được nhiều quốc gia biết đến do rất chú trọng vào phát triển tư duy sáng tạo, tư duy phản biện.

Thụy Điển: Học sinh đa số đạt học lực trên trung bình, phát triển theo hướng tích hợp các công nghệ cao vào công tác giảng dạy.

Australia: Điểm đến lý tưởng của du học sinh từ nhiều quốc gia.

Hà Lan: Hệ thống giáo dục đa dạng, du học sinh khá đông, đào tạo tiếng Anh rất bài bản và chất lượng cao.

Ngoài ra, các quốc gia khác như Hàn Quốc, Ireland, Tây Ban Nha, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch... cũng được ghi nhận là có nền giáo dục phát triển, học sinh không chịu áp lực do thi cử, việc quản lý và đánh giá từ phía nhà trường và giáo viên không tạo ra sự căng thẳng cho học sinh...

6. Quốc gia không có tham nhũng là một chỉ số hạnh phúc mà cả thế giới quan tâm. Tham nhũng đang là vấn đề nhức nhối, ăn mòn sức mạnh và tiềm lực phát triển quốc gia từ bên trong. Nó được ví như một căn bệnh làm suy kiệt sức khỏe của cả một dân tộc, một cộng đồng và làm tổn thương nặng nề đến tâm lý và thế lực của người chịu sự hạnh hạ của tham nhũng.

Tham nhũng không đơn thuần là hành vi lợi dụng quyền lực để trục lợi cá nhân, mà còn là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự suy yếu về kinh tế, xã hội và văn hóa của quốc gia.

Có 3 chỉ số cơ bản để đo mức độ tham nhũng của một quốc gia.

Chỉ số nhận thức tham nhũng (Corruption Perceptions index - CPI): Chỉ số đánh giá về tham nhũng trong khu vực công như hối lộ, chiếm dụng công quỹ, hành vi thiên vị (Nepotism) làm suy giảm sự công bằng và tính minh bạch của xã hội.

Chỉ số kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption - Worldwide Governance Indicator) - Đây là chỉ số quản trị toàn cầu, đo mức độ quyền lực công được sử dụng cho lợi ích tư nhân.

Chỉ số pháp quyền của Dự án công lý thế giới (World Justice Project Rule of Law Index): Chỉ số này đánh giá tính liêm chính của hệ thống tư pháp, của cơ quan hành pháp cũng như đánh giá khả năng thực thi pháp luật mà không bị thao túng. Chỉ số này đo các hiện tượng sau:

- Tần suất hối lộ trong dịch vụ công.

- Tính minh bạch: Khả năng tiếp cận thông tin công cộng.

- Xung đột lợi ích: Công khai tài chính của quan chức. Bảo vệ người tố cáo.

Năm 2015, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI) đã đánh giá xếp loại 168 quốc gia về hiện trạng tham nhũng. Thang điểm đánh giá từ 0 đến 100. Quốc gia nào có điểm càng nhiều thì có thứ hạng trên bảng xếp hạng càng cao.

10 quốc gia đứng đầu bảng

10 quốc gia đứng cuối bảng

Tên quốc gia

Điểm

Tên quốc gia

Điểm

Đan Mạch

90

Sudan

15

Phần Lan

88

Nicaraqua

14

Singapore

84

Yemen

13

New Zealand

83

Libya

13

Luxembourg

81

Eritrea

13

Na Uy

81

Guine xích đạo

13

Thụy Sĩ

81

Syria

12

Thụy Điển

80

Venezuela

10

Iceland

77

Somalia

9

Ireland

77

Nam Sudan

8

Mười quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng ít tham nhũng nhất trên thế giới rất đáng để chúng ta tham khảo kinh nghiệm quý báu của họ khi định chiến lược chống tham nhũng trong giai đoạn đầu toàn dân tiến vào kỷ nguyên số.

Những chỉ số về quốc gia hạnh phúc được xác định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

1. Có 3 mục tiêu hướng tới sự hài lòng của đông đảo nhân dân đối với sự hạnh phúc quốc gia mà Đại hội XIV của Đảng đề ra:

- Việt Nam phải tiếp tục thăng hạng trong bảng xếp hạng các quốc gia hạnh phúc trên thế giới. Trong một công trình điều tra của thế giới, Việt Nam là một nước đạt được sự thăng hạng liên tục trong bảng xếp hạng về hạnh phúc của 143 quốc gia được nghiên cứu.

Năm 2013: 77/143.

Năm 2024: 54/143.

Năm 2025: 46/143.

Năm 2026: Dự đoán 35/143.

Theo Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XIV, Việt Nam phải phấn đấu để đến năm 2030 sẽ nằm trong top 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới.

- Việc thăng hạng trên bảng xếp hạng quốc gia hạnh phúc của Việt Nam cần liên tục, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển. Một quốc gia đạt tới sự hài lòng của nhân dân phải dựa trên sự phát triển của việc xây dựng các gia đình hạnh phúc, cộng đồng hạnh phúc, thành phố hạnh phúc.

- Cố gắng phát triển quốc gia hạnh phúc để đến năm 2030, 75% dân số thấy hài lòng với sự phát triển xã hội. Sự hài lòng của quảng đại dân chúng thể hiện ở 3 khía cạnh:

Hài lòng với cuộc sống tinh thần và vật chất.Hài lòng với quan hệ xã hội, gia đình, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, dịch vụ xã hội.Hài lòng với sự quản lý của cơ quan công quyền.

2. Đi vào các chỉ số hạnh phúc, Đại hội Đảng lần thứ XIV đã xác định như sau:

- Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội

Tăng trưởng GDP hàng năm đạt ˃10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030.Đến cuối nhiệm kỳ Đại hội Đảng XIV, GDP bình quân tính trên đầu người phải đạt 8500 USD/người.

- Tuổi thọ trung bình, phát triển con người

Tuổi thọ bình quân cả nam lẫn nữ: 75,5 tuổi.Số năm sống khỏe: 68 năm.Toàn dân (100%) được kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm. Sức khỏe (thể chất và tinh thần) được quản lý chặt chẽ từ phía Nhà nước.Chăm sóc sức khỏe ban đầu được làm tốt từ hệ thống giáo dục ban đầu. Bữa trưa học đường cần được thực hiện phổ biến trong trường học các cấp.Bảo đảm tỷ lệ Bác sỹ là 19/10.000 dân.

Phát triển đa dạng các hình thức chăm sóc sức khỏe, chú trọng phương pháp chữa bệnh từ xa.

3. Xây dựng môi trường sống hạnh phúc

a. Xây dựng gia đình hạnh phúc

Gia đình có công việc, thu nhập ổn định để trang trải cho cuộc sống và chăm sóc sức khỏe.Vợ chồng bình đẳng, yêu thương, thủy chung, giúp đỡ nhau cùng tiến.Ông bà gương mẫu, con cháu hiếu thảo.

Mọi thành viên trong gia đình tôn trọng nhau, chia sẻ với nhau, cùng tham gia quyết định những vấn đề gia đình.

Chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước.Thực hiện nếp sống văn minh, lối sống lành mạnh.

b. Xây dựng cộng đồng hạnh phúc

Cộng đồng thôn bản, tổ dân phố là môi trường xã hội bảo đảm cho việc xây dựng, bảo vệ và phát triển gia đình hạnh phúc. Thôn bản, tổ dân phố hạnh phúc phải đạt các tiêu chí sau:

An ninh - trật tự: Không có tội phạm nghiêm trọng, tệ nạn xã hội được kiềm chế, an toàn giao thông, không có tai nạn cháy nổ.

Môi trường - cảnh quan: Xanh, sạch, đẹp, có hệ thống thu gom rác thải, không ô nhiễm, đường làng ngõ xóm sáng, sạch, xanh, đẹp.

Kinh tế - đời sống: Thu nhập bình quân đầu người cao, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm, người lao động có việc làm ổn định.

Đoàn kết - văn hóa: Tình làng nghĩa xóm được duy trì ổn định, dân trong cộng đồng đoàn kết, hỗ trợ, giúp đỡ nhau, thực hiện tốt nếp sống văn minh - văn hóa, không có khiếu kiện đông người.

Y tế - giáo dục: Mọi người đều được chăm sóc y tế, sức khỏe tinh thần và thể chất luôn được cải thiện, đời sống văn hóa phong phú.

Dân chủ - tự quản: Công khai, minh bạch, nhân dân có quyền bàn bạc những vấn đề trong cộng đồng và quyết các vấn đề chung của thôn bản/tổ dân phố.

c. Xây dựng trường học hạnh phúc

3 tiêu chí cốt lõi trong trường học hạnh phúc tại Việt Nam:

Con người: Xây dựng con người trong nhà trường có những giá trị nhân văn và chuẩn mực hành vi tích cực giữa người với người. Tại trường học, bất kỳ người nào bước vào khuôn viên trường đều được tôn trọng và đối xử thân thiện, an toàn và tự do thể hiện ý kiến của mình. Trong môi trường đó, ai cũng thấy mình có trách nhiệm phải vun đắp để nhà trường thực sự là nơi đầy đủ sự yêu thương, thông cảm và tự do.

Hoạt động: Hoạt động Dạy và Học được thực hiện một cách hợp lý, giáo viên được phát huy mọi năng lực sư phạm của mình để mang lại chất lượng đào tạo cao, không bị gò ép vào một khuôn khổ những quy định máy móc và những tiêu chí thi đua khiến làm sai lệch chất lượng đào tạo. Học sinh không bị áp lực thi cử, học theo yêu cầu phát triển riêng của chính mình.

Môi trường: Môi trường Dạy - Học được thiết kế an toàn, thân thiện, khơi gợi cảm hứng sáng tạo cho học sinh. Trường học là nơi phát triển trí tuệ, thể lực, tình cảm, ý chí và tầm vóc con người, không có rào cản nào cản trở sự phát triển của từng cá nhân. Thầy giáo gắn bó với học sinh; học sinh không kỳ thị, không hiềm khích lẫn nhau; mối quan hệ gia đình, xã hội, học đường khăng khít và đồng thuận.

Công tác khuyến học góp phần phát triển các chỉ số hạnh phúc quốc gia nhằm đạt sự hài lòng cao của nhân dân

Trong giai đoạn đầu tiên cả nước đi vào kỷ nguyên số, việc đổi mới toàn bộ hệ thống hoạt động trong xã hội phải dựa trên nền tảng tích hợp các công nghệ số, chuyển dần xã hội tri thức sang xã hội số. Hệ thống khuyến học cũng hoạt động trong khung cảnh này, và nói cụ thể thì, hệ thống khuyến học phải nhanh chóng chuyển đổi số một cách đồng bộ và toàn diện.

Có 6 lĩnh vực hoạt động khuyến học cần chuyển đổi số để góp phần tạo nên những chỉ số hạnh phúc nhằm đạt được sự hài lòng cao của toàn dân là:

1. Xã hội học tập và việc học tập suốt đời hướng tới việc phục vụ nhân dân trên cơ sở xây dựng quốc gia số, lấy nhu cầu học tập suốt đời làm tiêu chí phát triển nội dung, phương thức, phương pháp đào tạo chuyển đổi số, lấy mô hình công dân số làm trung tâm.

2. Nâng cao chất lượng học tập của người lớn, trang bị cho mọi người lao động những kiến thức số, kỹ năng số để họ thích ứng với môi trường sống chuyển đổi số, có tâm trạng thoải mái với mọi dịch vụ số trong các lĩnh vực học tập, chữa bệnh, giao tiếp, giải trí, mua bán...

3. Mọi người dân đều thỏa mãn khi có đủ kiến thức và kỹ năng sống an toàn trong môi trường số, bảo đảm được quyền riêng tư trên không gian mạng.

4. Mọi người dân đều cảm nhận được rằng, học tập suốt đời trong kỷ nguyên số là hành trình tri thức giúp học không chỉ tiếp cận với tri thức số, mà còn cho họ năng lực sáng tạo trong hệ thống nghề nghiệp sử dụng những công nghệ số ngày càng hiện đại. Nhờ đó, thu nhập được nâng cao, vượt trội so với cuộc sống trước chuyển đổi số.

5. Gia đình học tập, dòng họ học tập, cộng đồng học tập và đơn vị học tập trở thành hệ sinh thái số, giúp người dân kết nối với nhau, hỗ trợ và chia sẻ với nhau hoàn toàn khác trước nhờ công nghệ số.

6. Thế hệ trẻ Alpha, Beta trong các gia đình phát triển vượt trội thế hệ cha anh về nhiều phương diện, đóng góp nhiều cho sự giàu mạnh và an ninh đất.

Để người dân đạt được sự hài lòng như trên, những hoạt động khuyến học phải đổi mới một cách triệt để, phải chuyển đổi số mau lẹ và hiệu quả. Rồi đây, việc tự học tại nơi làm việc, tại nhà, tại mọi không gian và thời gian khác nhau sẽ là phương thức quan trọng bậc nhất. Chiếc điện thoại thông minh là phương tiện quan trọng hàng đầu. Cũng cần hiểu thêm rằng, sắp tới, trí tuệ nhân tạo sẽ tác động và làm thay đổi rất nhiều vai trò của điện thoại thông minh. Vì thế, kỹ năng làm chủ điện thoại thông minh lại càng cần phải nâng cao.

Khi điện thoại thông minh đạt tới trình độ cao nhờ vào AI, chắc chắn người ta không học tập tại các trung tâm học tập như bây giờ. Phương thức tự học qua giảng dạy - đào tạo trực tuyến sẽ lên ngôi.

Chỉ cần 5 năm nữa, khi đất nước đã thực hiện được phổ cập giáo dục trung học, các cơ sở đào tạo đại học sẽ đóng vai trò cung cấp các dịch vụ giáo dục cho người lao động là chính. Những Trung tâm học tập cộng đồng hiện đang có sẽ trở nên lỗi thời, thay vào đó có thể là những Cung văn hóa đại học cộng đồng. Đại chúng hóa giáo dục đại học sẽ là một tương lai rất gần.

Elon Musk rất lạc quan khi cho rằng, chỉ cần thời gian khoảng 5 năm nữa, vào sau năm 2030, AI sẽ thông minh hơn bất cứ người thông minh nào. Lúc đó, AI sẽ là một nhân tố động lực để đẩy nhanh Cách mạng công nghiệp 5.0 và mô hình xã hội thông minh sẽ hình thành. Lúc đó, việc học tập của con người bằng những thiết bị công nghệ cao sẽ khác với việc học tập hiện nay không chỉ về nguyên tắc, mà còn về nguyên lý. Giáo dục sẽ là dịch vụ công toàn cầu hoàn toàn miễn phí, không còn biên giới truyền thống và học tập suốt đời là lẽ sống của toàn nhân loại.

Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/hoi-khuyen-hoc-viet-nam-gop-phan-xay-dung-quoc-gia-hanh-phuc-179260312111722783.htm