Hoạt động khuyến học trong mời thầy dạy học ở các làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ thời xưa

TS Nguyễn Hữu Mùi*
09:33 - 21/10/2026

Mời thầy dạy học ở các làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ thời xưa là một trong các hoạt động về khuyến học được coi trọng. Người xưa có câu “ Không thầy đố mày làm nên” là để nhấn mạnh đến vai trò của người thầy trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh.

Việc mời thầy giáo về dạy học tại các làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ, dù có những tiêu chí khác nhau nhưng nhìn chung đây phải là những nhà sư phạm giỏi về chuyên môn, có đạo đức tốt, được làng xã nuôi dưỡng trong suốt quá trình giảng dạy học tập cho học sinh trong làng.

Điều này không chỉ là hoạt động khuyến học nơi làng xã nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước mà thông qua đây cho thấy tinh thần tôn sư trọng đạo, mang bản chất tốt đẹp của dân tộc ta thể hiện trong nền giáo dục khoa cử Nho học nước nhà, giai đoạn 1075-1919.

Việc mời thầy về dạy học ở mỗi làng xã theo những tiêu chí riêng, do địa phương lựa chọn

Làng Văn Trưng và Lăng Trưng huyện Bạch Hạc (nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ), nơi xây dựng trường dân lập và đặt học điền vào năm 1702 được coi là sớm nhất ở nước ta không trực tiếp đứng ra mời thầy mà giao cho "Hội đồng" gồm nhiều thành phần của hai xã đảm nhận, thể hiện ở Điều 2 trong quy định về quản lý trường học của hai xã: "Giao cho quan viên và Văn hội [Hội Tư văn] ở hai xã và các vị thiện tín có trách nhiệm giám sát việc mời thầy về dạy, lấy đó làm lệ thường".

Có nơi chỉ cần một thành phần là chức sắc địa phương giám sát mời thầy về dạy là đủ, như xã Bồ Điền, huyện Bạch Hạc (nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ). 

Quy định ở đây ghi: "Mời thầy giáo phải là người khoa mục danh tiếng". Có địa phương đặt ra yêu cầu người thầy phải có học vị Cử nhân hoặc Tú tài, như xã Phù Chính, huyện Bạch Hạc (nay là xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ): "Đón thầy giáo làng tất phải người đỗ Cử nhân hoặc Tú tài có danh tiếng". Xã Phú Vinh, huyện Yên Sơn (nay là xã Phú Nghĩa, thành phố Hà Nội) đặt ra tiêu chuẩn người thầy vừa phải giỏi về chuyên môn, vừa phải có đạo đức tốt:" Mời thầy dạy tất phải hạng khoa mục, người ngoài xã, có tư cách tốt, không lười biếng để giảng tập cho con em trong ấp".

Có xã lại đặt ra tiêu chuẩn cao hơn cho người thầy, coi thầy giáo phải đa năng, như xã Quan Nhân, huyện Thanh Trì (nay là phường Thanh Xuân, thành phố Hà Nội). Điều 1 trong tục lệ của xã lập năm Tự Đức thứ 2 (1849) ghi: "Lệ về người thầy giáo làng phải là người kiêm viết văn tế cầu phúc, cùng làm lễ bốn mùa trong năm của xã. Vị trí này thuộc loại quan trọng nên chọn người nào vợ chồng song toàn, có đủ con trai con gái, biết chữ nghĩa bầu làm thầy giáo".

Hoạt động khuyến học trong mời thầy dạy học ở các làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ thời xưa - Ảnh 1.

Hậu Hiền bi ký ghi thầy Nguyễn Đình Lệ được bầu làm Hậu hiền. Nguồn: Tiến sĩ Nguyễn Hữu Mùi

Đi đôi với những tiêu chí lựa chọn thầy giáo như vậy, việc nuôi dưỡng thầy cũng được các địa phương chú trọng, coi đây là trách nhiệm của địa phương đối với người thầy giáo làng. 

Sở dĩ như vậy là vì "Học quý ở được người thầy, mà việc dạy học không thể không nuôi dưỡng thầy", như nhận định trên bia Học điền bi ký của xã Mục Xá, huyện Thanh Oai (nay thuộc địa bàn huyện Thanh Oai cũ, thành phố Hà Nội). 

Thực tế nghiên cứu cũng cho thấy, người thầy giáo làng trong nền giáo dục khoa cử Nho học nước nhà, dù là Hương cống, Sinh đồ (thời Lê), Cử nhân, Tú tài (thời Nguyễn) nếu không ra làm quan hoặc cáo quan về quê đều không thuộc diện biên chế nhà nước và không có lương. 

Cho nên các làng xã có cách làm sáng tạo, khi cho rằng: "Đạo của việc học, rất quý có được người thầy mà lộc nuôi dưỡng thầy cần có học điền", tức phải lấy hoa lợi từ học điền làm lương nuôi thầy. Xã Phù Chính, huyện Bạch Hạc (nay là xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ) quy định:" Hạn định về số học điền, mỗi mẫu mỗi năm nộp 500 đấu thóc cho thầy. Thuế công của học điền do bản xã lĩnh chịu". 

Hoặc: "Phàm người nào lĩnh canh học điền, mỗi năm nộp thóc cho thầy vào 2 kỳ: một kỳ vào tháng 2, tháng 3; một kỳ vào tháng 10". 

Xã Bồ Điền, huyện Bạch Hạc (nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ) thì quy định: " Số thóc có trên 6 mẫu học điền của xã, cùng số thóc tăng thu mỗi sào của xã dùng làm lương đón thầy về dạy học". Xã Tư Vi, huyện Tiên Du (nay là xã Tân Chi, thành phố Bắc Ninh) cũng sở hữu trên 6 mẫu học điền, quy định mỗi năm nộp tổng cộng 100 phương thóc cho thầy. 

Theo tính toán, 1 phương tương đương 33 kg thì trong một năm người thầy giáo ở xã Tư Vi nhận số thóc là 3,3 tấn. Số liệu như vậy cho thấy cuộc sống của người thầy giáo ở xã này vào đầu thế kỷ XX thuộc loại khá giả, nếu không nói là giàu có. 

Xã Quang Hiển, huyện Yên Mô (nay thuộc địa bàn huyện Yên Mô cũ, tỉnh Ninh Bình) không tính thóc bằng đấu, bằng phương mà tính bằng 1 mẫu học điền, quy định: "Người nào trong xã nuôi được minh sư giáo dạy cho sĩ tử trong làng thì được phụ cấp 1 mẫu ruộng công nhằm trọng đạo học".

Ngoài số lương thực bằng thóc, nhiều làng xã còn dành nhiều ưu đãi cho thầy giáo. Xã Phù Chính, huyện Bạch Hạc nêu trên là ví dụ: bản xã có 6 mẫu [không sào] 2 thước học điền, quy định: "Học điền do người thầy được quyền chọn người lĩnh canh, người trong ấp không được tranh chấp. Hoặc thầy giáo có người nhà lĩnh canh cũng được". 

Người thầy giáo ở đây còn được hưởng "mỗi năm vào 3 tiết Đoan ngọ, Thường tân và nguyên đán, mỗi tiết mừng thầy 2 quan tiền, y phục hằng năm trị giá 6 quan tiền giao cho thầy". 

Hoặc như thôn Nguyên Xá, xã Nhân Hào, huyện Yên Mỹ (nay thuộc địa bàn huyện Yên Mỹ cũ, tỉnh Hưng Yên) có lệ miễn tạp dịch cho thầy, nếu thầy là người bản thôn đảm nhận việc dạy bảo cho học sinh trong làng, do tục lệ của thôn quy định: "Người nào trong thôn là thầy giáo đảm nhận dạy học trò thì được miễn trừ lao dịch, tạp dịch"...

Khi thầy giáo qua đời được học trò lo thờ tự, thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Xã Tư Vi, huyện Tiên Du, như đề cập, có lệ: "Xã đã sơ chế dựng một tấm bia đặt tại trường học. Những thầy giáo đến dạy học ở ấp ta khi qua đời, xã sẽ khắc tên húy, tên hiệu vào bia để lưu truyền thờ cúng lâu dài". 

Tiên sinh Ngô Bảo, người xã Phú Thị, huyện Gia Lâm (nay là xã Gia Lâm, thành phố Hà Nội), không chỉ là người thầy giỏi dạy chữ nghĩa Thánh hiền mà còn là nhà thư pháp trứ danh.

Khi qua đời, học trò xuất tiền và ruộng giao cho dân xã chi dùng nên được bầu làm Hậu Phật, ghi trên bia Hậu Phật bi ký, dựng niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 (1746). 

Thầy Nguyễn Đình Lệ ở xã Lai Cách, huyện Cẩm Giàng (nay là phường Việt Hòa, thành phố Hài Phòng) là người "văn chương hoa lệ, đạo đức thịnh dày, học thức sâu sắc, phát huy sự uyên áo của Thánh hiền, giữ nghiệp giảng dạy, đào tạo được nhiều sĩ tử tài giỏi". 

Khi mất, học trò đóng góp 10 quan tiền, 3 sào ruộng giao cho Hội Tư văn bản xã chi dùng trong việc trùng tu Từ vũ, được Hội Tư văn nơi đây bầu thầy làm Hậu Hiền, ghi trên bia Hậu Hiền bi ký, lập niên hiệu Cảnh Hưng thứ 25 (1764).

*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long.

Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/hoat-dong-khuyen-hoc-trong-moi-thay-day-hoc-o-cac-lang-xa-vung-dong-bang-bac-bo-thoi-xua-179261021093332339.htm