Chính sách khuyến học bằng tinh thần ở triều Lý - Trần
Triều Lý (1009-1225) là triều đại mở ra nền giáo dục khoa cử Nho học cho đất nước. Trong bước đi ban đầu của nền giáo dục khoa cử Nho học ấy, triều Lý rất quan tâm đến vấn đề khuyến học, đặc biệt là khuyến học bằng tinh thần.

Văn miếu được xây dựng tại kinh thành Thăng Long năm 1070. Ảnh tư liệu
Khuyến học bằng tinh thần được hiểu là loại hoạt động lấy tinh thần làm động lực chính nhằm thúc đẩy việc học
Ở thời Lý, trước khi có nền giáo dục khoa cử Nho học được xác lập, trong xã hội tồn tại chế độ nhậm tử mà thực chất của nó là dựa vào công lao của người cha để người con được trao chức vụ. Tức đây không phải là chế độ dựa vào năng lực chuyên môn mà dựa vào lý lịch. Điều này vô hình trung đã mang lại đặc quyền cho giới quý tộc, còn các thành phần khác trong xã hội thì không, cho dù họ là người có tài năng thực sự.
Nhận thấy sự bất cập đó, triều Lý mà tiêu biểu là vị vua anh minh Lý Thánh Tông (1054-1072) đã cho xây dựng xây dựng văn miếu ở kinh thành Thăng Long vào năm 1070.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Mùa thu, tháng 8, làm văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng Thái tử đến học ở đây".
Thông qua sự kiện xây dựng văn miếu cho thấy trong tư tưởng của Lý Thánh Tông đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, do ông đã nhận thấy vai trò quan trọng của Nho giáo trong việc xây dựng và quản lý chính quyền của nhà nước quân chủ.
Cho nên việc đầu tiên là ông cho xây dựng văn miếu, lấy làm nơi thờ Khổng Tử, vị tổ sư của việc học ở Trung Hoa thời cổ đại. Động thái này là biện pháp về tinh thần dùng để khuyến khích người Việt Nam mà trước hết là con em trong Hoàng tộc dấn thân vào con đường học tập theo tư tưởng của Nho giáo. Vì chỉ có Nho giáo mới đào tạo ra những con người tốt nhất, có năng lực để thừa hành trong bộ máy nhà nước.
Chưa dừng lại ở đó, chỉ 6 năm sau, vào năm 1076, vua Lý Nhân Tông (1072-1128) nối tiếp vua cha, tiếp tục cho xây dựng Quốc Tử Giám ở phía sau văn miếu và tuyển chọn người biết chữ sung vào học tập.
Cách làm này có ý nghĩa, bởi phía trước Quốc Tử Giám là nơi học tập của con em Hoàng tộc và con em nông dân (những người thông minh, tuấn tú) liền kề với văn miếu là nơi thờ vị Khổng Tử sẽ tiện lợi trong việc chiêm bái vị thánh tổ của đạo học, từ đó biết ngọn nguồn của tri thức mà phấn đấu vươn lên trong học tập.
Đối với người đi thi, triều Lý đưa ra chủ trương chỉ giới hạn về độ tuổi tối thiểu mà không giới hạn về độ tuổi tối đa. Chủ trương này ghi nhận vào năm 1185, triều đình mở khoa thi sĩ nhân trong nước, trong đó quy định: "Người nào từ 15 tuổi mà thông thi thư thì được vào hầu học ở Ngự diên. Lấy bọn Bùi Quốc Thái, Đặng Nghiêm 30 người, còn thì đều ở lại học". Quy định như vậy sẽ tạo tâm lý phấn chấn cho sĩ tử, bởi những người chưa đỗ đạt sẽ tiếp tục được học tập, trở thành những nhân tài cho đất nước.

Khoa thi triều Lý. Ảnh tư liệu
Chính sách khuyến học bằng tinh thần ở triều Lý còn thể hiện ở việc lấy khoa cử làm trọng, coi đây là thước đo năng lực chuyên môn, không câu nệ vào lý lịch xuất thân của người tham dự khoa trường.
Số liệu thống kê cho thấy, trong số 11 người đỗ đạt ở triều Lý do sách Đăng khoa lục ghi lại, từ Lê Văn Thịnh (người làng Đông Cứu huyện Gia Định, nay là thôn Bảo Tháp xã Đông Cứu tỉnh Bắc Ninh) đến Phạm Tử Hư, người xã Nghĩa Lư huyện Cẩm Giàng (nay là thôn Nghĩa Phú xã Tuệ Tĩnh, thành phố Hải Phòng) đều xuất thân từ tầng lớp dân thường.
Điều này cho thấy vương triều nhà Lý đã nhìn nhận vấn đề nhân tài thông qua khoa cử là cách làm đúng đắn, vì nó lựa chọn được người tài năng, đảm đương công việc quốc gia, cho dù họ là người xuất thân từ tầng lớp nhân dân lao động. Nó cũng chỉ ra thực tế nhân tài của đất nước tập trung ở nông thôn là chủ yếu.
Triều Trần (1225-1400) khuyến học bằng tinh thần - tiếp nối của khuyến học có từ triều Lý
Văn miếu và Quốc Tử Giám ở Thăng Long vẫn duy trì hoạt động như của triều Lý. Tại Văn miếu, theo thông lệ vào ngày Đinh của tiết xuân thu hằng năm, nơi đây tổ chức tế lễ Khổng Tử và các vị tiên triết của Nho giáo, coi đây là hoạt động sùng Nho trọng Hiền của người Việt Nam. Cuối triều Trần, triều đình tiến thêm một bước trong hoạt động khuyến học bằng cách tôn vinh 3 vị túc Nho, gồm:
Chu Văn An: người xã Quang Liệt huyện Thanh Đàm (nay là thôn Quang Liệt phường Hoàng Liệt, thành phố Hà Nội), chưa rõ năm đỗ Thái Học sinh. Đời vua Trần Minh Tông (1314-1329), ông được bổ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám, dạy học cho Thái tử.
Đời Trần Thuận Tông (1341-1369), chính sự rối loạn, quyền thần lộng hành, ông can ngăn nhiều lần nhưng vua không nghe, bèn dâng sớ xin chém 7 gian thần. Vua không trả lời, ông treo mũ từ quan, về ẩn cư tại Chí Linh. Khi ông mất, vua Trần Nghệ Tông (1370-1372), ban tên thụy là Văn Trinh, đưa vào phối thờ tại văn miếu vào năm 1370.
Trương Hán Siêu: người làng Phúc Thành huyện Yên Ninh (nay thuộc phường Tây Yên Hoa tỉnh Ninh Bình) từng đỗ Thái Học sinh dưới triều vua Trần Nhân Tông (1279-1293), phụng sự bốn đời vua, từ Trần Anh Tông đến Trần Dụ Tông, làm quan đến chức Gián nghị đại phu Tham tri chính sự.
Ông từng thống lĩnh quân Thần sách chống lại quân Chiêm Thành xâm phạm bờ cõi Đại Việt, sau lại phụng mệnh trấn thủ ở Hóa Châu. Ông là người cương quyết, giỏi văn chương và chính sự được vua gọi bằng Thầy mà không gọi tên. Sau khi mất được truy tặng chức Thái phó và được phối thờ tại văn miếu vào năm 1372.
Đỗ Tử Bình: người thôn Hà Tràng huyện Giáp Sơn (nay xã Nam Phụ, thành phố Hải Phòng), được phối thờ tại văn miếu vào năm 1380.
Cả 3 vị đều là người Việt Nam, xuất thân theo con đường khoa cử của Nho giáo, ra làm quan với nhiều đóng góp cho đất nước nên được phối thờ với các vị Tiên triết, Tiên hiền của Nho giáo. Đây không chỉ là hoạt động khuyến học bằng tinh thần lúc đương thời mà còn tạo tiền lệ cho việc xây dựng văn miếu, văn từ, văn chỉ cũng như đưa người trong nước đỗ khoa trường vào thờ tại những nơi này ở giai đoạn về sau.
Về khoa cử, triều Trần tiếp tục quy định về độ tuổi cho người tham dự khoa trường như của triều Lý, thấy ở 6 người trong tổng số 51 người đỗ Thái học sinh của bản triều.
Đây đều là những người tuổi trẻ, như Nguyễn Hiền (người xã Dương A huyện Thượng Hiền, nay là thôn Dương A xã Nam Hồng tỉnh Ninh Bình), đỗ năm 13 tuổi; Đặng Ma La (người xã Tốt Động huyện Chương Mỹ, nay là thôn Tốt Động xã Quảng Bị, thành phố Hà Nội) đỗ năm 14 tuổi; Trần Đạo Tái (người xã Tức Mặc phủ Thiên Trường, nay là phường Nam Định tỉnh Ninh Bình) cũng đỗ năm 14 tuổi; Nguyễn Trung Ngạn (người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi, nay là thôn Hoàng Cả xã Ân Thi tỉnh Hưng Yên) đỗ năm 16 tuổi; Lê Văn Hưu (người xã Phủ Lý huyện Đông Sơn, nay là thôn Phủ Lý xã Thiệu Trung tỉnh Thanh Hóa) đỗ năm 18 tuổi; Lý Đạo Tái (người xã Vạn Ty huyện Gia Định, nay là xã Nhân Thắng tỉnh Bắc Ninh) đỗ năm 21 tuổi.
Bên cạnh đó, khi nhận thấy sự chênh lệch về trình độ học sinh giữa vùng Tứ trấn (vùng gần kinh thành Thăng Long) với vùng Thanh Nghệ (vùng xa kinh thành Thăng Long), triều Trần đã khuyến khích tinh thần cho vùng Thanh Nghệ, thể hiện ở sự quy định lấy thêm một Trạng nguyên ở vùng này, trong khi vùng Tứ trấn cũng chỉ lấy một Trạng nguyên.
Quy định này áp dụng vào năm Nguyên Phong thứ 6 (1256) đời vua Trần Thái Tông, do năm đó có khoa thi Thái học sinh. Tuy nhiên chỉ có năm 1256 và năm 1266 là hai khoa thi Thái học sinh được hưởng sự khuyến khích như vậy, các khoa thi còn lại của triều Trần cũng chỉ lấy 1 Trạng nguyên nhằm khuyến khích học sinh vùng Thanh Nghệ phấn đấu vươn lên trong học tập, tạo ra mặt bằng kiến thức đồng đều trong cả nước.
Sau cùng là hoạt động dùng để khuyến khích tinh thần cho học sinh nhưng chỉ dành cho 3 người đỗ ở hạng Đệ nhất giáp (hạng cao nhất trong 3 hạng đỗ ở mỗi kỳ thi Điện hay thi Đình) được ra cửa Long môn đi dạo, ngắm cảnh phố Thăng Long trong 3 ngày. Lệ này áp dụng vào năm 1304, mở ra tiền lệ cho việc vinh quy bái tổ của các triều đại về sau.
*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long.
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/chinh-sach-khuyen-hoc-bang-tinh-than-o-trieu-ly-tran-179260327230047172.htm
