Trí tuệ nhân tạo kiến tạo "trường học bỏ túi"
Tôi nghĩ việc vận động người lớn biến điện thoại di động thành "trường học bỏ túi" chính là tạo ra cho từng người không gian tri thức riêng, kế hoạch học tập riêng, mục tiêu học tập riêng. Họ vừa là hiệu trưởng, vừa là người điều hành việc học, mà lại chỉ học những gì mình cần, có ích... thông qua chiếc điện thoại nhỏ bé.
TRƯỜNG HỌC BỎ TÚI LÀ GÌ?
1️⃣
Trường học bỏ túi (Pocket school) là ứng dụng mô hình học tập di động, bắt đầu từ ý tưởng tổ chức những lớp học di động dựa trên Chương trình Stanford Mobile Inquiry - based Learning Environment (SMILE).
Những người sáng lập muốn dùng mạng lưới điện thoại thông minh giá rẻ làm công cụ kết nối giáo dục nhằm giúp trẻ em nghèo ở các quốc gia đang phát triển tiếp cận một cách chủ động với những tri thức mới.
Cảm hứng từ ý tưởng này, tôi nghĩ đến việc vận động người lớn ở Việt Nam biến điện thoại di động thành một trường học bỏ túi, tạo ra cho riêng mình không gian tri thức riêng, kế hoạch học tập riêng, mục tiêu học tập riêng... trong học tập.
Trong ngôi trường riêng ấy, người học sở hữu điện thoại vừa là người học, vừa là hiệu trưởng, vừa là người điều hành kế hoạch học tập. Họ sẽ học những gì họ cần, làm ngay những gì từ những tri thức họ tiếp cận.
Nếu mỗi người có riêng cho mình một trường học bỏ túi, việc học tập theo phương thức học tập của người lớn sẽ có những thay đổi lớn.
2️⃣
Việc phát triển trường học bỏ túi sẽ yêu cầu thay đổi phương thức học tập tại trung tâm học tập cộng đồng.
Theo Nghị quyết 71-NQ/TW, nhân dân ta đang vận dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để tái định hình giáo dục, và đương nhiên trong đó có tái định hình trung tâm học tập cộng đồng.
Đi vào kỷ nguyên số với sự có mặt của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI), Trung tâm học tập cộng đồng truyền thống đang dần giảm dần vai trò độc tôn của mình về phương thức học không chính quy cho người dân trong cộng đồng.
Mỗi học viên tới trung tâm mà mang tới một trường học bỏ túi riêng thì sẽ định hình lại mô hình Trung tâm học tập cộng đồng truyền thống một cách cơ bản. Do vậy, trong bài viết này, mối quan hệ giữa Trung tâm học tập cộng đồng được đề cập với một phiên bản mới, đặt trong sự kết nối với những trường học bỏ túi.
3️⃣
Là một người làm tư vấn cho Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam và có mối quan hệ thường xuyên, gắn bó với Thường trực Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam, tôi đề xuất trong giai đoạn 2026-2031, Hội nên có cuộc vận động người lớn "Mỗi người lớn có một trường học bỏ túi".
Tương tự, trước đây, Hội khuyến học Việt Nam từng có cuộc vận động "Sóng và máy tính cho em" để giúp học sinh, sinh viên không bị gián đoạn việc học bởi những ngày thực hiện cách ly do phải ứng phó với đại dịch COVID-19.
4️⃣
Trung tâm học tập cộng đồng sẽ luôn là thiết chế học tập thường xuyên cho người lớn trên địa bàn hành chính cấp xã.
Nhìn thẳng vào tình trạng của hệ thống trung tâm này, có thể thấy cách tổ chức và hoạt động của hệ thống đã giảm dần tính thích ứng của nó khi cuộc sống xã hội đang chuyển đổi số với sự ứng dụng Trí tuệ nhân tạo ngày càng tăng.
Tái định hình mô hình trung tâm học tập cộng đồng không phải là chức năng của Hội Khuyến học Việt Nam. Nhưng tái định hình nó như thế nào lại là câu chuyện khác, phụ thuộc vào việc Hội tư vấn cho Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc này càng để lâu càng làm cho việc tồn tại hệ thống trung tâm học tập cộng đồng thêm mất giá trị.
TRƯỜNG HỌC BỎ TÚI HÌNH THÀNH, TRỞ THÀNH MỘT THÀNH TỐ CỦA TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG NHỜ AI.
"Trường học bỏ túi" trong bài viết này là những tri thức cần chuyển giao cho người học được gói gọn trong điện thoại thông minh và mang lại cho người học một phương thức học tập suốt đời chưa từng có từ trước tới nay.
1. Về bản chất, trường học bỏ túi có 3 dấu hiệu:
Sự tách rời tri thức khỏi không gian: Trước đây, muốn học thì phải đến trường. Tri thức bị giam trong 4 bức tường, trong thư viện, trong đầu thầy, cô giáo. Bây giờ, tri thức thành một dòng chảy. Trường học không còn là địa điểm ta phải đến, mà là một trạng thái, ta có thể bật lên để đến với nó bất cứ lúc nào.
Trường học bỏ túi là trường học được phi vật chất hóa. Trường truyền thống sẽ biến thành giao diện.
Sự chuyển giao quyền lực: Từ Institution (một cơ quan, một tổ chức) sang Individual (quyền riêng biệt của cá nhân).
Trường học truyền thống là mô hình Một - Nhiều (1 thầy - nhiều trò, 1 thư viện - nhiều người đọc, một chương trình cả triệu người phải học theo).
Trường học bỏ túi là mô hình Một - Một - Một (một người học - một gia sư hoặc một trợ lý, một thư viện, một thủ thư...).
Trường học trong túi dạy theo tốc độ nhận biết, trình độ và sự tò mò của người học. Ở đây, gia sư không mắng người học vì học mãi chưa hiểu, cũng không gọi người hỏi là kẻ dốt. Nó chỉ hướng dẫn theo cách khác sao cho hiểu thì thôi.
Trường học bỏ túi là một xưởng sản xuất: Học xong đến đâu làm luôn đến đó như quay video, viết code, thiết kế, bán hàng ngay trên chiếc điện thoại.
Nó là sự thay đổi định nghĩa về sự học. Trường học truyền thống dạy người học biết; Trường học bỏ túi dạy người học phải làm được.
Bản chất sâu xa nhất của trường học bỏ túi là ở chỗ, nó không phải là trường học, mà là một hệ sinh thái học tập cá nhân, lấy con người làm gốc.
2. Về tổ chức, trường học bỏ túi là loại hình trường ảo:
Nó là hệ sinh thái học tập cá nhân, nó khác biệt về chất so với Trung tâm học tập cộng đồng, tức là một kiểu trường học gắn với cộng đồng.
Ta có thể làm phép so sánh đơn giản sau đây để thấy sự khác biệt 2 loại hình trường truyền thống và trường bỏ túi.
Tiêu chí | Trung tâm học tập cộng đồng (hiện nay tại Việt Nam) | Trường học bỏ túi (của người lao động Việt Nam) |
Triết lý hoạt động | Tạo nơi học tập chung cho cộng đồng | Đưa việc học đến tận nơi người lao động sống và làm việc |
Đối tượng chính | Nhân dân trên địa bàn hành chính cấp xã. | Tập trung vào nhóm lao động bận rộn: Nông dân, công nhân, lao động dịch vụ |
Cách tổ chức | Học theo lớp, hội nghị, hội thảo chuyên đề ở địa phương | Học linh hoạt mọi lúc mọi nơi qua điện thoại di động |
Nội dung | Thường thiên về phổ biến kiến thức hoặc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước | Thiên về kỹ năng tạo giá trị: Nghề mới, công nghệ, tài chính cá nhân, kỹ thuật sản xuất, chuyển đổi nghề |
Người dạy | Giáo viên, cán bộ địa phương, báo cáo viên | Các trợ lý AI vai trò là trợ giảng, hỗ trợ học tập |
Động lực tham gia | Phụ thuộc nhiều vào sự thúc đẩy của các tổ chức (Hội khuyến học, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên) và của gia đình, dòng họ | Học do lợi ích trực tiếp: Tăng thu nhập, giữ được việc làm, nâng cao tay nghề, chuyển đổi nghề |
Công nghệ | Đang chuyển đổi số (nhưng còn hạn chế) | Có thể lấy nền tảng số làm trung tâm: Học qua điện thoại, video ngắn, AI hỗ trợ |
Đánh giá kết quả | Đo qua kết quả cải thiện đời sống cá nhân, gia đình và tham gia hoạt động xã hội | Đo bằng kỹ năng mới, việc làm, năng suất, thu nhập |
Trường học bỏ túi có nhược điểm là không giáo dục người học đạo đức xã hội và trách nhiệm xã hội, thiếu hẳn chương trình học tập quán quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Do vậy, việc này vẫn cần đến trung tâm học tập cộng đồng. Vấn đề là, trong điều kiện người lao động có trường học bỏ túi thì trung tâm học tập sẽ cần tái định hình theo hướng nào.
Điểm yếu lớn nhất của trung tâm học tập cộng đồng hiện nay vẫn là mô hình mang dáng dấp của một thiết chế giáo dục hành chính cần có địa điểm, có ban quản lý, có kế hoạch hoạt động, không phải lúc nào cũng xuất phát từ câu hỏi "Người lao động hôm nay cần học gì để sống tốt hơn, làm việc tốt hơn?".
Rất nhiều trung tâm còn thiếu nguồn lực, đặc biệt là kinh phí hoạt động, thiếu nhân sự kiêm nhiệm phù hợp và nội dung chưa thật sự bám sát nhu cầu người học.
Trong khi đó, ý tưởng "Trường học bỏ túi" có thể hiểu là mô hình giáo dục vi mô (micro - learning), học tập suốt đời thực dụng với các đặc điểm:
Người lao động học tập theo phương thức tự học, mỗi ngày có thể tích luỹ tri thức một lượng nhỏ tri thức, "tích tiểu thành đại", học tại nơi làm việc mà lao động vẫn an toàn, việc học tập không thành áp lực lên đầu óc.
Người lớn tuổi nhờ trường học bỏ túi mà hàng ngày cập nhật được kiến thức mới, không bị lạc lõng với thời cuộc, không có tâm trạng cô đơn khi kết nối trường học riêng của mình với trường học của những người khác. Họ sẽ không bị bỏ lại khi quốc gia chuyển đổi số.
Nhờ trường học bỏ túi, người học có thể tích luỹ dần các kỹ năng mới. Khi cần chuyển đổi nghề, họ không cần nghỉ việc làm để theo các khoá đào tạo lại với một thời gian dài.
Trung tâm học tập cộng đồng cần trở thành điểm học tập sống, một không gian thực hành thực tế và cơ sở hỗ trợ số. Vai trò của nó sẽ thay đổi theo hướng:
- Từ Trung tâm vật lý sang "Trung tâm học tập lai" (Hybrid: kết hợp 2 nguồn lực)
- Từ "nơi tổ chức học tập" trở thành "hạ tầng học tập của cộng đồng".
- Từ nơi "phổ biến kiến thức" thành nơi "giải quyết nhu cầu thực tế".
Thách thức hiện nay trên địa bàn hành chính cấp xã không phải là mở thêm nhiều hơn nữa các phòng học, mà là xây dựng hệ sinh thái học tập rẻ tiền, gần gũi với người học, linh hoạt, thiết thực, gắn trực tiếp với sinh kế.
Như trên đã nói, trường học bỏ túi về bản chất là một hệ sinh thái học tập cá nhân. Mặc dù cá nhân học trong hệ sinh thái có chất lượng và hiệu quả cao vượt trội so với học ở trung tâm học tập cộng đồng, song vẫn cần tới cơ sở học tập loại hình này.
Phải chăng, trung tâm học tập cộng đồng trong kỷ nguyên số sẽ là một phiên bản mới với tên gọi trung tâm học tập cộng đồng AI mà bản chất là hệ sinh thái học tập cộng đồng.
Như vậy, trung tâm học tập AI sẽ bao gồm đông đảo học viên như bây giờ hoặc nhiều hơn, đặc biệt là, trong túi họ đều có những trường học bỏ túi với tư cách là những hệ sinh thái học tập cá nhân.
HƯỚNG TÁI ĐỊNH HÌNH TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG VÀ CƠ CHẾ KẾT NỐI NGƯỜI HỌC CÓ TRƯỜNG HỌC BỎ TÚI VỚI NHAU TẠI TRUNG TÂM
Trong kỷ nguyên số, ở cấp xã, cần duy trì trung tâm học tập cộng đồng, tuy nhiên, phải theo phiên bản mới như một hệ sinh thái học tập cộng đồng:
- Có không gian trí tuệ của AI, với lượng tri thức lớn lao để người học lựa chọn tự do những tri thức mình cần.
- Có người hướng dẫn thực (giáo viên, kỹ sư, trí thức, chuyên gia công nghệ số và AI).
- Những học viên vốn có, nhưng giờ đây nhiều người tới trung tâm đó, có điện thoại thông minh - trường học bỏ túi.
- Tại trung tâm có những thiết bị học tập dùng chung, học những gì mà trường học bỏ túi không giúp cho người học (trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ gia đình và cộng đồng, đạo đức và văn hoá gắn kết với cộng đồng...) theo các khoá học địa phương.
- Nó kết nối học viên với học viên, học viên với chuyên gia...
Trong khi đó, bên trong những học viên có trường học bỏ túi, nghĩa là, họ mang tới trung tâm những thứ sau:
- Trợ lý AI riêng của họ;
- Kho học liệu trong điện thoại;
- Lộ trình học tập riêng;
- Mục tiêu học tập và phát triển nghề nghiệp;
- Tốc độ học tập riêng.
Trước đây Trung tâm học tập cộng đồng là nơi mà người lớn tới học; tại đấy, giáo viên giảng bài, học viên ghi nhớ, thực hành, khóa học kết thúc. Ngày nay, sau khi được định hình lại, trung tâm sẽ mang bộ mặt mới:
- Người học mang tới trung tâm một môi trường học tập suốt đời riêng;
- Trung tâm hỗ trợ, kết nối người học, định hướng học tập cho họ.
- AI tiếp tục cá nhân hoá việc học tập cho từng học viên.
Để có một trung tâm học tập cộng đồng theo phiên bản mới, và để mỗi người học có trường học bỏ túi, nhất thiết Đảng bộ và Chính quyền địa phương phải bảo đảm đồng thời 3 điều kiện:
- AI giá rẻ, dễ dùng, trước hết, tối thiểu mỗi người học phải có điện thoại di động. Làm thế nào phổ cập được mục tiêu này, đây là trách nhiệm của những người đứng đầu.
- Để con người sử dụng được AI, ban đầu phải có giáo viên, chuyên gia, tình nguyện viên, người hướng dẫn số... phải giúp người dân có kỹ năng cài đặt và sử dụng AI trên điện thoại.
- Trung tâm học tập cộng đồng phải tổ chức học để gắn việc triển khai kiến thức đã học với sự phát triển sản xuất của địa phương, sự mở rộng ngành nghề và thị trường lao động trong nước.
Để người học hiểu sâu hơn nữa về Trung tâm học tập cộng đồng AI trong tương lai (Hệ sinh thái học tập cộng đồng) và Trường học bỏ túi (Hệ sinh thái học tập cá nhân), xin mời xem bảng so sánh sau:
Tiêu chí | Hệ sinh thái học tập cộng đồng (Trung tâm học tập cộng đồng AI) | Hệ sinh thái học tập cá nhân (Trường học bỏ túi) |
Định nghĩa | Là không gian vật lý + số, nơi cộng đồng cùng học, cùng chia sẻ, cùng tạo ra tri thức, lấy cộng đồng làm trung tâm | Là không gian học tập riêng của mỗi người trên thiết bị di động, lấy người học làm trung tâm |
Mục tiêu cốt lõi | Xóa mù AI, nâng cao năng lực số cho cộng đồng, tạo việc làm địa phương, giữ gìn tri thức bản địa | Cá nhân hoá tuyệt đối toàn bộ trình học tập, học mọi lúc mọi nơi, theo nhịp độ của mình |
Chủ thể chính | Tập thể, người dân, Câu lạc bộ, Hợp tác xã, doanh nghiệp địa phương, chuyên gia, chính quyền | Cá nhân: Một người học duy nhất với hồ sơ năng lực riêng |
Thành tố chính | Thư viện cộng đồng, Trung tâm học tập cộng đồng, Câu lạc bộ, Quỹ khuyến học, Quy chế học tập số địa phương quy định | Công cụ số (LMS, AI, Youtube, Notion), mentors, mạng xã hội học tập, PLE portfolio |
Tính chất tương tác | Học tập tương hỗ, chia sẻ, đồng kiến tạo tri thức | Học tập tự định hướng, tự chiều chỉnh |
Vai trò công nghệ | Kết nối nguồn lực, quản lý dữ liệu học tập cộng đồng | Công nghệ số và AI quyết định hiệu quả học tập |
Đánh giá | Đánh giá bằng chỉ số phát triển cộng đồng (Đặc biệt là sự phát triển về các lĩnh vực sản xuất của địa phương) | Đánh giá bằng sự tiến bộ cá nhân, năng lực tự học |
Tính bền vững | Thể chế bảo đảm sự tham gia học tập của dân chúng, phát triển văn hóa học tập | Phụ thuộc vào động lực và năng lực tự chủ của cá nhân |
TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TỪNG LÀ PHÁT KIẾN VĨ ĐẠI CỦA NHÂN LOẠI
Các nước trên thế giới từng được làm quen với một loại hình trường học không chính quy dành cho người lớn với cái tên "Trung tâm học tập cộng đồng" (Community Learning Centre - CLC) vào những năm cuối thế kỷ 20.
Đây là loại hình thiết chế giáo dục được tổ chức gắn với cộng đồng cơ sở thuận lợi cho những người lớn muốn học nhưng không có điều kiện học trường chính quy, nhất là những người thuộc các nhóm yếu thế.
Một số tài liệu nghiên cứu khẳng định rằng, Trung tâm học tập cộng đồng được bắt đầu từ Mỹ, người đặt nền móng cho loại hình giáo dục này là John Dewey và Jane Addams.
Khi trung tâm học tập cộng đồng bắt đầu phát huy những tác động tích cực, Tổng Giám đốc UNESCO khu vực, ông Victor Ordonez, đã đánh giá: "Trung tâm học tập cộng đồng có thể được coi là một phát minh quan trọng nhất mà bấy lâu nay thế giới đang tìm kiếm".
Vì vậy, UNESCO đã nỗ lực biên soạn nhiều tài liệu tập huấn nhằm giúp cho các nhà lãnh đạo địa phương nâng cao vai trò nhận thức về vai trò, vị trí của tTrung tâm học tập cộng đồng, giúp cho họ có năng lực quản lý và điều hành hoạt động của mô hình này.
Trong giai đoạn 1996-2016, trên phạm vi toàn thế giới, nhất là ở khu vực Châu Á, Trung tâm học tập cộng đồng đã phát triển rất nhanh. Riêng ở Việt Nam, nếu năm 1996 chỉ có khoảng 100 trung tâm thì đến năm 2020, số trung tâm đã đạt hơn 10.000.
Trung tâm học tập cộng đồng ở Việt Nam đã thực sự là một thiết chế giáo dục không chính quy của cộng đồng, do cộng đồng, vì cộng đồng.
Nhiều người đã coi mô hình này là chiếc chìa khóa mở ra cơ hội học tập suốt đời cho nông dân, thợ thủ công, người gặp khó khăn về kinh tế, người khuyết tật...
- Là một loại hình trường học (mặc dù là loại hình giáo dục không chính quy), trung tâm học tập cộng đồng cần có một diện tích đất đai để dựng lên cơ ngơi của mình. Nó cần có phòng làm việc cho ban quản lý trung tâm, cần có phòng học đủ bàn ghế cho học viên, cần có bảng, có phấn hoặc bút viết bảng, có tủ sách, có TV, có máy tính... Không có đủ điều kiện thì "bất thành trung tâm".
- Đã là trường học thì phải có nhà quản lý trường, có giáo viên, có nhân viên hành chính và quản trị... và quan trọng là phải có người đến học.
- Khi đã tổ chức lớp học thì bắt buộc phải có chương trình, bài giảng, có sự giám sát việc học tập, phải có hồ sơ đánh giá, theo dõi việc học hành, bảo đảm chất lượng giảng dạy của thầy và kết quả tốt đẹp của việc học hành của học viên...
Cho dù việc xây dựng Trung tâm học tập cộng đồng có đơn giản đến thế nào chăng nữa thì nó vẫn là một loại hình trường, hoạt động theo một thể chế nhất định.
- Khi có cơ ngơi của một trung tâm học tập cộng đồng rồi thì công việc là mời thầy đến giảng bài, mà muốn mời thầy thì phải có kinh phí. Lâu nay, việc này trông nhờ vào Ủy ban nhân dân cấp xã là chính. Khoản chi phí này từ ngân sách nhà nước là hết sức khiêm tốn, bởi hầu như toàn bộ tiền đầu tư vào trung tâm theo mức quy định chính thức của Nhà nước không thể lớn hơn 10.000.000đ/năm.
- Một bài toán khá khó cho việc xác định địa điểm xây dựng trung tâm học tập cộng đồng: Nếu người học phải đi từ nhà đến nơi học trên đoạn đường lớn hơn 1,5 km thì những ngày mưa gió, rét mướt... sẽ làm cho không ít học viên bỏ buổi học.
Họ lao động 8 tiếng trong ngày, chiều tối về nhà sau bữa cơm, còn lo một số việc gia đình thì khó lòng đi học tốt với quãng đường xa. Còn đi học tại trung tâm phải tốn khoản chi phí cho giao thông thì lại thêm một bài toán phải giải.
Trung tâm học tập cộng đồng hay một cơ sở đào tạo sẽ tiến hành công việc giảng dạy và tổ chức học tập theo phương thức truyền thống.
Trong buổi học (hay trong việc nghe giảng một chuyên đề), lớp học thường có khoảng 40-50 học viên. Nếu ít người nghe thì thường cũng phải khoảng 25 người. Ít hơn nữa, người phụ trách sẽ cho hoãn vì mất tiền thù lao cho thầy mà quá ít trò là việc chi tiêu được coi là không hợp lý.
Trong một bài giảng, yêu cầu phải có nhiều học viên. Lớp học truyền thống luôn phải có thầy giáo. Thầy giảng giải, truyền thụ kiến thức, các học viên nghe giảng và ghi chép. Cho nên, điều kiện cơ bản là sự hiện diện của thầy, thiếu điều kiện này thì lớp học bất thành.
Thầy đến lớp chỉ mang theo 1 giáo trình, mấy chục trò nghe chung một nội dung từ thầy truyền đạt. Giáo trình đó không phục vụ, không đáp ứng bất cứ nhu cầu riêng nào của người học. Nó áp đặt người học phải nghe, nếu không nghe thì sau này thầy kiểm tra mà không thuộc thì coi như không đạt yêu cầu học tập.
Tốc độ giảng giải một giáo trình của thầy có thể nhanh, mà cũng có thể chậm, người nghe phải chấp nhận tốc độ đó. Nhanh thì tiếp thu được nội dung, chậm hiểu thì sẽ hạn chế việc tiếp nhận và tiêu hóa kiến thức. Rất có thể tốc độ giảng bài của thầy không phù hợp với tốc độ nhận thức của nhiều học viên.
Thông thường, trong giờ giảng, phần lớn kiến thức trong giáo trình phụ thuộc nhiều vào "vốn liếng" thầy đang có và phụ thuộc vào yêu cầu chung về nhận thức của người viết giáo trình.
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/tri-tue-nhan-tao-kien-tao-truong-hoc-bo-tui-179260904142558432.htm



