Hành trình 30 năm khuyến học, xây dựng xã hội học tập
Người làm khuyến học sẽ không còn "khuyên người khác đi học", mà phải cùng giới trẻ học tập cùng AI và động viên người trẻ tham gia Bình dân học vụ AI.
I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT NHỮNG THÀNH TỰU MÀ HỘI KHUYẾN HỌC ĐÃ LÀM NÊN TRONG GIAI ĐOẠN 1996-2026
Những thành công của Hội Khuyến học Việt Nam trong 30 năm qua đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận. Bức trướng do Trung ương Đảng tặng Hội: "Khuyến học - khuyến tài xây dựng cả nước thành một xã hội học tập" cho thấy điều đó. 2 tấm Huân chương Lao động hạng Nhất của Hội đã nói lên vai trò không có tổ chức nào thay thế của Hội và những giá trị mà Hội đóng góp cho xã hội.
Nhưng, là một người đã cùng đội ngũ cán bộ và hội viên của Hội thực hiện hành trình tri thức không ngừng nghỉ trong 30 năm qua, tôi muốn thể hiện sự đánh giá của riêng mình theo phương pháp tiếp cận khoa học (Scientific Approach) với góc nhìn công tác khuyến học không chỉ là một cuộc vận động người lớn học tập suốt đời, mà là một bộ phận của Andragogy - Khoa học giáo dục người lớn.
Tôi có đánh giá riêng của mình về hành trình 30 năm khuyến học và xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam - nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước giao cho Hội Khuyến học Việt Nam:
1
Hội khuyến học Việt Nam đã chuyển mô hình xã hội học tập truyền thống, gồm hệ thống các thiết chế giáo dục chính quy và không chính quy khép kín sang hệ sinh thái giáo dục người lớn mở với những phương thức học tập chuyển đổi số đa dạng, linh hoạt và liên thông.
Mô hình xã hội học tập truyền thống (ban đầu), trong đó, việc học tập thường xuyên của người lớn bị giới hạn bởi không gian vật lý cố định (Trung tâm học tập cộng đồng với những lớp học cổ điển theo kiểu các lớp học dùng cho trẻ em) vốn có trước đây. Việc giảng dạy giao cho giáo viên, chương trình bài học thiếu phục vụ thực tiễn sản xuất.
Mô hình sinh thái giáo dục mở phá vỡ các bức tường của lớp học truyền thống. Quá trình học được tiến hành qua sự kết nối các cá nhân, gia đình, nhà trường, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội.
4 yếu tố cốt lõi của hệ sinh thái giáo dục người lớn mở:
Chủ thể học tập: Bao gồm mọi đối tượng khác nhau về lứa tuổi, nghề nghiệp, địa vị xã hội, trình độ học vấn; Người khuyết tật và người thuộc các nhóm yếu không bị bỏ lại.
Hệ thống công nghệ: Chuyển từ hình thức giảng dạy - học tập trực tiếp sang lấy công nghệ số làm nền tảng, giảng dạy - học tập có nhiều hình thức trực tuyến hoặc kết hợp (trực tiếp + trực tuyến). Đồ dùng học tập truyền thống được thay thế dần bởi các thiết bị thông minh.
Hệ thống ngữ cảnh (môi trường): Xây dựng và phát huy văn hóa học tập suốt đời trong toàn xã hội, việc quản lý học tập của người lớn có sự chuyển đổi số tích cực. Gia đình, dòng họ, cộng đồng và đơn vị trên địa bàn xã từng bước trở thành môi trường sinh thái học tập, phát triển thành viên của mình thành công dân học tập số.
Thay đổi đánh giá: Chuyển việc đánh giá việc học tập qua kiểm tra học gì, số điểm hoặc nhận xét kết quả học tập sau một đợt tập huấn, một chuỗi bài giảng sang đánh giá tác dụng học tập của từng cá nhân, từng gia đình, từng thôn bản/tổ dân phố, từng cơ quan/đơn vị công tác đối với việc cải tiến việc làm, năng suất lao động, bảo vệ môi trường, xây dựng quan hệ xã hội.
2
Khuyến học không đơn thuần là một phương thức lan tỏa tri thức, mà trở thành hệ điều hành văn hóa định hình nên chiều sâu nội lực của một dân tộc. Khi tinh thần hiếu học được chuyển hóa thành sức mạnh mềm, nó không chỉ tạo ra lợi thế cạnh tranh mang tính giai đoạn, mà chính là xương sống bền vững, bảo đảm sự trường tồn và sự kiến tạo văn minh của quốc gia trong một thế giới đầy biến động.
4 yếu tố làm cho khuyến học trở thành sức mềm trong không chỉ lĩnh vực giáo dục, mà còn có tác động tới xã hội bên ngoài:
Tính tự nguyện và sự thuyết phục: Sự vận động toàn dân tham gia học tập suốt đời được Hội Khuyến học thực hiện bằng phương thức gọi là "Dân vận khéo". Những người làm khuyến học dùng các thủ thuật gợi mở, nêu gương, kiên trì thuyết phục kết hợp với việc hỗ trợ tài chính cho những người dân có mức sống thấp... khiến cho mọi người thấy được khuyến học mang lại những giá trị cho từng người, từng nhà, từng cộng đồng. Giác ngộ là yếu tố cốt lõi, và khi người ta giác ngộ thì chính lúc đó mới hình thành sự tự nguyện.
Nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc: Thông qua học tập thường xuyên, người dân có kiến thức mới như một chìa khóa mở ra cánh cửa thoát nghèo. Họ gắn kết với người xung quanh nhiều hơn, ứng xử tốt với người xung quanh, tôn trọng nhau, khiến trong cộng đồng, người dân nào cũng thấy bản thân mình có giá trị. Đời sống trở nên bớt áp lực và thoải mái, dễ sống hơn.
Gắn kết cộng đồng từ gốc: Khi các gia đình, dòng họ học tập tốt, sản xuất mang lại thu nhập ngày càng cao, các dòng họ hợp thành những bản làng, thôn xóm, tổ dân phố gắn kết thì văn hóa truyền thống bản địa có điều kiện phát triển, kéo theo sau là văn hóa học tập rõ nét dần. Văn hóa học tập trong cộng đồng nói lên mức độ phát triển của sức mạnh mềm của khuyến học.
Giá trị đạo đức và trách nhiệm xã hội: Ở Việt Nam, trong phong trào học tập suốt đời, "Học không bao giờ cùng" trở thành một triết lý. Mọi người dân cùng chăm lo học thì việc thực hiện nhiệm vụ học tập trở thành ý thức đạo đức và trách nhiệm phải hoàn thành.
Khi những hoạt động khuyến học thể hiện ở mức mạnh mẽ của nó, ta sẽ dần nhận thức được một số giá trị lớn lao của Khuyến học:
- Đầu tư vào Khuyến học là phương thức tối ưu hóa vốn xã hội, biến khát vọng của người học thành một thứ quyền lực mềm, thấm thấu sâu sắc vào các cơ quan hoạch định chính sách khuyến học.
- Tương lai của quốc gia không thuộc về nguồn tài nguyên thô mà quốc gia sở hữu, mà thuộc về những dân tộc biết không ngừng tự làm mới mình bằng tri thức.
- Khuyến học được giới lãnh đạo chăm lo vun đắp sẽ trở thành một động cơ vĩnh cửu để tái sản xuất sức mạnh nội sinh của dân tộc. Sức mạnh mềm của Khuyến học giống như chiếc la bàn định vị Việt Nam trên bản đồ văn minh trong thế giới hiện đại.
3
Đối chiếu các hoạt động Khuyến học trong 30 năm qua với 6 nguyên tắc của Khoa học giáo dục người lớn (Andragogy), ta thấy những mô hình xã hội học tập cũng như các mô hình học tập do Khuyến học sáng tạo đang góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý thuyết của Andragogy.
Do vậy, Khuyến học trở thành một bộ phận thực nghiệm không tách rời Khoa học giáo dục người lớn.
Để Khuyến học không chỉ dừng lại ở một phong trào xã hội, mà trở thành một bộ phận hữu cơ (thực nghiệm và cấu thành) của Khoa học Andragogy, mối quan hệ này phải được xây dựng dựa trên 4 yếu tố cốt lõi sau:
Sự đồng điệu về triết lý học tập suốt đời: Cốt lõi của Andragogy là thúc đẩy việc tự học và phát triển liên tục năng lực của người trưởng thành. Khuyến học chính là công cụ xã hội hóa triết lý này, biến lý thuyết thành các phong trào cụ thể như xây dựng Gia đình học tập, Dòng họ học tập, Công dân học tập.
Sự tương thích giữa 6 nguyên tắc Andragogy và mô hình Khuyến học: Các hoạt động Khuyến học phải được thiết kế dựa trên đặc điểm của người lớn: tôn trọng những kinh nghiệm sẵn có, thúc đẩy động lực tự thân, gắn liền với nhu cầu thực tế và vai trò xã hội của họ, thay vì áp lực áp đặt như giáo dục trẻ em.
Chuyển đổi từ "Tác động phong trào" sang "Cơ sở khoa học": Các mô hình khuyến học, mô hình học tập cần được khảo sát, đánh giá, tổng kết bằng phương pháp nghiên cứu định lượng/định tính. Từ đó, làm cho khuyến học đóng vai trò là vùng thực nghiệm sinh động, cung cấp dữ liệu đầu vào để bổ sung, làm phong phú thêm hệ thống lý thuyết của Andragogy.
Tính định hướng hành động và giải quyết vấn đề: Giáo dục người lớn chỉ thành công khi giúp các học viên trưởng thành giải quyết ngay và nhanh chóng các vấn đề trong cuộc sống (kinh tế, nghiệp vụ, thích ứng công nghệ), luôn giúp người lớn giữ nguyên tắc "Học đi đôi với hành" một cách tự nhiên nhất.
4
Việt Nam xây dựng và phát triển xã hội theo một lối đi riêng, không sao chép khuôn mẫu xã hội học tập của bất cứ nước nào đi trước.
Lối đi riêng đó giúp cho Việt Nam có được một mô hình phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hoá, xã hội và trình độ phát triển của mình.
Những yếu tố đặc thù để làm nền tảng xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam là:
- Truyền thống hiếu học và tinh thần tôn trọng tri thức đã hình thành từ nhiều thế kỷ trước.
- Hội khuyến học là một mạng lưới rộng khắp với các mô hình học tập (Gia đình học tập, Dòng họ học tập, Cộng đồng học tập, Đơn vị học tập và Công dân học tập)
- Nhu cầu học tập của lực lượng lao động trong nước rất đa dạng và rất lớn. Trong quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nhu cầu này ngày càng tăng.
- Sự phổ cập điện thoại thông minh là một hiện tượng khá đặc biệt ở Việt Nam. Đây có thể là điều kiện quan trọng để tốc độ phát triển tự học ở Việt Nam sẽ rất cao.
- Bước vào kỷ nguyên số, trong mô hình tự học ở Việt Nam đang lộ dần xu thế mới.
- Người học không đóng vai "học trò", mà là "Chủ thể" của hành trình học tập.
- Cộng đồng dân cư trở thành môi trường học tập.
- Công nghệ số trở thành cơ sở hạ tầng cho việc chuyển một phần việc học trực tiếp truyền thống sang học tập trực tuyến.
- Trí tuệ nhân tạo đang dần dần thực hiện vai trò đối tác hỗ trợ tư duy và học tập.
5
Việc định hình mô hình học tập cấp xã đã tạo cho Hội khuyến học có điều kiện hội nhập sâu hơn và nhanh chóng vào xu thế xây dựng thành phố học tập toàn cầu của UNESCO.
Ý nghĩa chiến lược của mô hình xây dựng xã hội học tập từ cơ sở:
Tiếp cận từ gốc: Với chủ trương "Xây dựng xã hội học tập từ cơ sở", Hội khuyến học thay vì tập trung xây dựng xã hội học tập trên địa bàn đô thị, hướng đến mô hình xã hội từ cấp xã/phường và các cộng đồng dân cư nhỏ nhất.
Phát huy sức mạnh cộng đồng: Mô hình xã học tập/phường học tập huy động toàn bộ dân cư học tập thường xuyên, học tập suốt đời ngay tại nơi sinh sống.
Gắn liền thực tiễn: Các hoạt động học tập gắn sát với lao động sản xuất, với truyền nghề, phát triển nghề mới và chuyển đổi số tại địa phương.
Động lực hội nhập toàn cầu:
Chuẩn hóa tiêu chí quốc tế: Bộ tiêu chí đánh giá công nhận mô hình gia đình học tập, dòng họ học tập, cộng đồng học tập, đơn vị học tập và công dân học tập đều được xác định thông qua sự tham khảo các tiêu chí quốc tế về học tập suốt đời, tác dụng của các mô hình học tập tới sản xuất và đời sống, yêu cầu số hóa và xanh hóa cuộc sống xã hội...
Lan tỏa phong trào số hóa: Việc kết hợp mô hình học tập với chuyển đổi số đã thực sự giúp đỡ rất nhiều người dân nâng cao năng lực công nghệ số và thích ứng linh hoạt với xã hội số.
Nâng cao vị thế quốc tế: Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam đã có 6 đô thị gia nhập mạng lưới thành phố học tập toàn cầu của UNESCO (GNLC) một cách thực chất và bền vững.
Có thể khẳng định rằng, Hội Khuyến học đã góp một phần không nhỏ đưa sự nghiệp xã hội học tập quốc gia vào xu thế phát triển xã hội học tập toàn cầu.
II. NHỮNG THÁCH THỨC MÀ HỘI KHUYẾN HỌC PHẢI ĐỐI MẶT KHI DẪN DẮT PHONG TRÀO XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP ĐI VÀO KỶ NGUYÊN SỐ VỚI SỰ TÁC ĐỘNG CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
1. Hội Khuyến học phải vượt qua chính mình, từ "Xoá mù số" đến "Đồng hành cùng AI". Hội phải chuyển đổi tư duy khuyến học truyền thống sang tư duy học tập số cùng AI. Đây là cuộc cách mạng lớn trong phong trào khuyến học.
Hội phải làm cho mọi cán bộ và hội viên của Hội không dừng lại ở việc biết dùng máy tính hay Smartphone, mà phải học cách tư duy và cộng tác với AI (như Chatbot, trợ lý ảo) để cá nhân hoá trong học tập. Không làm được việc này, người làm công tác khuyến học không thể đóng vai trò là "Người hướng dẫn số" cho cộng đồng.
2. Tái định hình toàn diện tổ chức và phương thức hoạt động khuyến học. Chuyển mô hình Hội khuyến học hiện nay sang mô hình "Hội khuyến học thông minh". Các phương thức vận hành cũ (Hội họp trực tiếp, quản lý sổ sách, phát động phong trào...) rất chậm chạp cần chuyển sang các phương thức số hoá với sự hỗ trợ của AI.
Xác định phương thức khuyến học mới đúng nghĩa "khuyến học số", tạo không gian học tập với nền tảng trực tuyến mở như MOOCs, kho dữ liệu mở... Tổ chức Hội phải trở thành một mạng lưới kết nối linh hoạt thay vì bộ máy hành chính thuần túy.
3. Khoảng cách thế hệ - một mâu thuẫn mới nảy sinh: Digital Immigrants (Những người nhập cư xã hội số) hướng dẫn Digital Natives (Những người là công dân bản địa số) trong xã hội số - Đây là sự lệch pha thế hệ: Các cán bộ khuyến học phần lớn là người cao tuổi phải học cách thích nghi với xã hội số để xây dựng chương trình giáo dục người lớn cho thế hệ trẻ là những công dân bản địa của xã hội số.
Trong Andragogy, người làm khuyến học lớn tuổi với tư duy, phương pháp luận vốn có trong học liệu không thể áp dụng vào lớp người trẻ đến tuổi học ở hệ thống giáo dục tiếp tục. Khoảng cách tư duy trong học tập giữa 2 thế hệ này có nguy cơ tạo ra sự mất kết nối giữa người hướng dẫn với học viên. Người làm khuyến học sẽ không còn "khuyên người khác đi học", mà phải cùng giới trẻ học tập cùng AI và động viên người trẻ tham gia Bình dân học vụ AI.
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/hanh-trinh-30-nam-khuyen-hoc-xay-dung-xa-hoi-hoc-tap-179260930153802678.htm

