Đọc hiểu hồi kí, viết đoạn văn nghị luận văn học và bài văn nghị luận xã hội
Các thí sinh có thể thử sức trước kì thi tốt nghiệp môn Ngữ văn với các kỹ năng: Đọc hiểu hồi kí, viết đoạn văn nghị luận văn học và bài văn nghị luận xã hội.
Cấu trúc đề tham khảo môn Ngữ văn: Đọc hiểu hồi kí; viết đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ và bài văn nghị luận xã hội khảng 600 chữ


GỢI Ý ĐÁP ÁN
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Sự kiện lịch sử trong đoạn trích trên được ghi chép lại dựa trên hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Câu 2. Tính xác thực của thể loại hồi kí được thể hiện qua những yếu tố sau của văn bản:
Thời gian, địa điểm cụ thể, chính xác: Mồng 2 tháng Chín năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
Sự kiện lịch sử có thật: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Nhân vật có thật: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người trực tiếp chứng kiến sự kiện lịch sử.
Câu 3. Thủ pháp miêu tả đã góp phần khắc họa vẻ đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Tác giả đã sử dụng thủ pháp miêu tả để khắc họa ngoại hình, phong thái, giọng nói, lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Ngoại hình: gầy gò, trán cao, mắt sáng, râu thưa, đội mũ đã cũ, áo ka ki cao cổ, dép cao su trắng
Phong thái: dáng đi nhanh nhẹn, chứ không phải dáng đi trang trọng của những người "sang".
Giọng nói: vừa phảng phất giọng nói của miền quê Nghệ An vừa điềm đạm, đầm ấm. Không phải là giọng hùng hồn người ta thường được nghe trong những ngày lễ long trọng.
Lời nói: khúc chiết, rõ ràng, đầy sự quan tâm đến nhân dân đồng bào: "Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?"
Thủ pháp miêu tả đã góp phần khắc họa vẻ đẹp giản dị, ấm áp, gần gũi nhưng cũng rất uy nghi, cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đó đã hình ảnh Bác đã khắc sâu vào tâm hồn mỗi người con đất Việt.
Câu 4. Sự kiện hiện thực được nói tới trong đoạn trích là: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình vào ngày 2/9/1945.
Cảm xúc của người viết là niềm vui sướng, hạnh phúc, xúc động nghẹn ngào cùng thái độ thành kính thiêng liêng.
Mối quan hệ giữa sự kiện hiện thực và cảm xúc của người viết: là sự gắn kết, không thể lãng quên. Sự kiện hiện thực được nhìn nhận, soi chiếu qua cảm xúc của người viết càng trở nên có ý nghĩa, giá trị không chỉ với lịch sử của đất nước, dân tộc mà còn có ý nghĩa với đời sống tinh thần của biết bao thế hệ người dân Việt Nam. Và khi nhắc đến sự kiện lịch sử, cảm xúc của người viết càng bồi hồi, xúc động hơn, càng tự hào hơn về lịch sử dân tộc, về sức mạnh đoàn kết toàn dân, về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Câu 5. Lời tuyên bố nền độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa với thế hệ trẻ hôm nay:
Nhận thức được độc lập, tự do là quyền tự nhiên, quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới trong đó có đất nước Việt Nam.
Nhận thức được để có được nền độc lập tự do đó, các thế hệ cha anh đã phải đánh đổi bằng tất cả "tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải".
Thức dậy trong tâm hồn thế hệ trẻ tình yêu quê hương, đất nước; niềm tự hào về truyền thống yêu nước, đánh đuổi giặc ngoại xâm của các thế hệ con người Việt Nam để bảo vệ nền độc lập, tự do của đất nước.
Có hành động thiết thực để bảo vệ nền độc lập tự do của đất nước, chủ quyền lãnh thổ của dân tộc; dựng xây quê hương đất nước để xứng đáng với công lao dựng nước, giữ nước của cha ông.
II. VIẾT
Câu 1. Phân tích, đánh giá thủ pháp trần thuật trong đoạn trích hồi kí
Làm rõ thủ pháp trần thuật của người viết trong đoạn trích hồi kí:
Thời gian, địa điểm chính xác, cụ thể (ngày 2/9 tại Quảng trường Ba Đình).
Tác giả lần lượt kể các sự kiện diễn ra: Tác giả kể lại sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước quốc dân đồng bào, từ việc chuẩn bị bộ quần áo cho Bác, cho đến diễn biến buổi lễ trang trọng Bác đọc Tuyên ngôn độc lập trước toàn thể đồng bào.
Thủ pháp trần thuật được kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm, nhiều câu văn dài được ngắt thành nhiều nhịp, nhịp dồn dập…khiến sự kiện trong hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được tái hiện chân thực và ấn tượng.
Thủ pháp trần thuật trong đoạn trích đã tái hiện chân thực thời khắc lịch sử thiêng liêng khi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Khơi dậy trong lòng người đọc cảm nhận niềm xúc động, tự hào; giúp mỗi người trẻ hôm nay tự nhận thức được trách nhiệm của bản thân đối với lịch sử dân tộc…
Câu 2. Sứ mệnh của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước
Giải thích được vấn đề nghị luận:
Bảo vệ chủ quyền đất nước là giữ vững sự toàn vẹn lãnh thổ, độc lập, và tự do của quốc gia trước mọi nguy cơ xâm lấn. Đây là nhiệm vụ thiêng liêng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam.
Cơ sở của vấn đề (bối cảnh xã hội và thực trạng): Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những căng thẳng về biên giới, biển đảo, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia càng trở nên cấp thiết. Các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông và những âm mưu xâm phạm lãnh thổ là thách thức lớn đối với đất nước. Đáng tiếc, một số bạn trẻ vẫn còn thờ ơ hoặc chưa ý thức sâu sắc về vai trò của mình trong vấn đề này.
Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận:
Trách nhiệm của giới trẻ trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước:
Nâng cao nhận thức về chủ quyền quốc gia. Mỗi bạn trẻ cần trau dồi hiểu biết về lịch sử, văn hóa, và tình hình chính trị của đất nước. Những buổi hội thảo, tọa đàm, hay các chiến dịch tuyên truyền về biển đảo là cơ hội để giới trẻ hiểu rõ hơn giá trị của chủ quyền dân tộc. Sự hiểu biết sâu sắc là nền tảng để phát triển lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm.
Hành động thực tiễn trong mọi lĩnh vực. Giới trẻ có thể đóng góp bằng cách tham gia các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học về quốc phòng, hay những chiến dịch truyền thông bảo vệ hình ảnh đất nước. Một bài viết trên mạng xã hội truyền cảm hứng, một sáng kiến công nghệ hỗ trợ an ninh, hay một hành động nhỏ giúp bảo vệ môi trường biển đều là cách thể hiện tình yêu quê hương một cách thiết thực.
Lan tỏa tinh thần yêu nước trong cộng đồng. Là thế hệ năng động, giới trẻ có khả năng truyền tải những thông điệp tích cực qua mạng xã hội, các diễn đàn, hay các hoạt động cộng đồng. Họ có thể trở thành cầu nối để khơi dậy tinh thần đoàn kết, đồng lòng của cả dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng.
Mở rộng, nâng cao được vấn đề nghị luận và rút ra bài học:
Bảo vệ chủ quyền không chỉ là trách nhiệm của giới trẻ. Chủ quyền quốc gia là vấn đề lớn, đòi hỏi sự đồng lòng của mọi tầng lớp trong xã hội, từ các nhà lãnh đạo, nhà khoa học, cho đến những người dân bình dị. Thế hệ trẻ là lực lượng chủ chốt, nhưng nếu thiếu sự dẫn dắt của người lớn, thiếu chính sách giáo dục và định hướng đúng đắn, họ khó có thể đảm nhiệm tốt vai trò này. Vì thế, bảo vệ tổ quốc là trách nhiệm chung, cần sự kết nối của cả một dân tộc.
Nhiều người cho rằng "Bảo vệ chủ quyền chỉ cần thiết lúc chiến tranh". Đây là ý kiến sai lầm, việc giữ vững chủ quyền trong thời bình là nền tảng để đất nước phát triển ổn định và tránh nguy cơ xâm phạm từ bên ngoài. Nếu lơ là bảo vệ chủ quyền khi hòa bình, chúng ta có thể đánh mất những gì cha ông đã hy sinh xương máu để gìn giữ, lâm vào cảnh chiến tranh.
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/doc-hieu-hoi-ki-viet-doan-van-nghi-luan-van-hoc-va-bai-van-nghi-luan-xa-hoi-179260518204829322.htm