Công thức phòng chống dịch bệnh do virus Nipah (Bộ Y tế)
Bộ Y tế khẳng định sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình, phối hợp với WHO, các quốc gia trên thế giới để kịp thời chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch Nipah.
Bộ Y tế đã ban hành Quyết định về việc ban hành tài liệu chuyên môn "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah" (ảnh minh hoạ).
Bộ Y tế hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh truyền nhiễm do virus Nipah
Trước tình hình bệnh truyền nhiễm trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Ở nước ta, khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện cho nhiều tác nhân gây bệnh và lưu hành quanh năm, Bộ Y tế đã có những khuyến cáo kịp thời phòng các dịch bệnh mùa Xuân. Trong đó, đáng lưu ý có những chỉ dẫn về cách phòng chống dịch bệnh do virus Nipah.
Ngày 13/02/2026, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định về việc ban hành tài liệu chuyên môn "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah", áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cả nước.
Virus Nipah là virus RNA sợi đơn thuộc họ Paramyxoviridae, phân họ Orthoparamyxovirinae, chi Henipavirus. Vật chủ tự nhiên là dơi ăn quả thuộc chi Pteropus, dơi mang virus nhưng không biểu hiện triệu chứng. Vật chủ trung gian có thể là lợn (chủ yếu trong đợt dịch tại Malaysia), đôi khi là ngựa hoặc một số gia súc khác như dê, cừu và chó.
Virus Nipah có hai dòng gây bệnh chính, trong đó, dòng NiV-Malaysia chủ yếu liên quan đến lây truyền từ động vật sang người và khả năng lây truyền từ người sang người rất thấp.
Dòng NiV-Bangladesh và NiV-India có độc lực cao hơn, khả năng lây truyền từ người sang người khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh cao hơn so với chủng Malaysia.
Đường lây truyền của virus Nipah gồm tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm bệnh hoặc chất tiết của chúng như nước tiểu, nước bọt; tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm chất bài tiết của dơi như nhựa cây chà là, trái cây; và lây từ người sang người qua dịch tiết hô hấp, nước tiểu hoặc chất nôn.

Thời gian ủ bệnh do virus Nipah dao động từ 3-14 ngày. Ảnh minh hoạ: IT
Virus lan truyền qua giọt bắn khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Người bệnh có triệu chứng hô hấp có nguy cơ lây truyền cao hơn so với người chỉ có triệu chứng viêm não.
Về biểu hiện lâm sàng, hướng dẫn của Bộ Y tế nêu rõ, thời gian ủ bệnh của bệnh do virus Nipah dao động từ 3-14 ngày, có thể đến 45 ngày (hiếm gặp).
Bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng như sốt cao, đau đầu nhiều, đau mỏi cơ, đau họng, nôn và tiêu chảy. Giai đoạn toàn phát có thể xuất hiện biểu hiện thần kinh như chóng mặt, lơ mơ, lú lẫn, mất định hướng; giảm ý thức có thể tiến triển nhanh từ lơ mơ sang hôn mê sâu trong vòng 24-48 giờ.
Các triệu chứng khác có thể gặp gồm co giật, yếu chi, liệt mềm, liệt vận nhãn. Bệnh cũng có thể gây biểu hiện hô hấp như ho, khó thở và suy hô hấp tiến triển nhanh.
Ở giai đoạn nặng, người bệnh có thể suy đa tạng, suy thận, suy tim, xuất huyết tiêu hóa và nhiễm trùng huyết. Một số trường hợp sống sót có thể bị viêm não tái phát sau nhiều tháng hoặc nhiều năm. Khoảng 20% người sống sót để lại di chứng thần kinh lâu dài như mệt mỏi dai dẳng, thay đổi tính cách, trầm cảm và dấu hiệu thần kinh khu trú.
Virus Nipah được phát hiện lần đầu năm 1998 tại Malaysia, sau đó ghi nhận các đợt bùng phát lẻ tẻ nhưng thường xuyên tại Bangladesh, Ấn Độ, Singapore và Philippines. Bệnh có biểu hiện nặng thường là viêm não và viêm phổi nặng, với tỷ lệ tử vong từ 40% đến 75% hoặc để lại di chứng nặng nề.
Bệnh do virus Nipah được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tiềm năng gây đại dịch và nằm trong danh sách ưu tiên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Bệnh do virus Nipah lây truyền sang người chủ yếu qua ba con đường: tiếp xúc trực tiếp với động vật bị nhiễm bệnh hoặc dịch tiết của chúng (nước tiểu, nước bọt...); sử dụng thực phẩm bị ô nhiễm bởi dịch tiết của dơi, động vật nhiễm NiV (như nước nhựa cây chà là, trái cây bị dơi căn,...); và tiếp xúc trực tiếp với dịch cơ thể của bệnh nhân.
Về biểu hiện lâm sàng, thời gian ủ bệnh dao động từ 3-14 ngày, có thể đến 45 ngày (hiếm gặp). Bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng như sốt cao, đau đầu nhiều, đau mỏi cơ, đau họng, nôn và tiêu chảy. Giai đoạn toàn phát có thể xuất hiện biểu hiện thần kinh như chóng mặt, lơ mơ, lú lẫn, mất định hướng; giảm ý thức có thể tiến triển nhanh từ lơ mơ sang hôn mê sâu trong vòng 24-48 giờ.
Bệnh lây truyền sang người chủ yếu qua ba con đường: tiếp xúc trực tiếp với động vật bị nhiễm bệnh hoặc dịch tiết của chúng (nước tiểu, nước bọt...); sử dụng thực phẩm bị ô nhiễm bởi dịch tiết của dơi, động vật nhiễm NiV (như nước nhựa cây chà là, trái cây bị dơi căn,...); và tiếp xúc trực tiếp với dịch cơ thể của bệnh nhân.
Hướng dẫn xét nghiệm chẩn đoán dịch bệnh
Về xét nghiệm chẩn đoán, hướng dẫn của Bộ Y tế yêu cầu tuân thủ quy định lấy mẫu, bảo quản, đóng gói và vận chuyển mẫu theo hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh do Bộ Y tế ban hành.
Các xét nghiệm gồm phát hiện RNA của virus bằng Real-time RT-PCR hoặc giải trình tự gen, mẫu bệnh phẩm có thể là dịch tiết đường hô hấp, nước tiểu, máu và dịch não tủy. Xét nghiệm huyết thanh học ELISA được sử dụng để phát hiện kháng thể trong máu hoặc dịch não tủy.
Ca bệnh nghi ngờ được xác định là người có yếu tố dịch tễ như trở về từ vùng dịch lưu hành hoặc tiếp xúc với dịch tiết của ca bệnh xác định trong vòng 14 ngày và có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ; hoặc xét nghiệm huyết thanh học dương tính.
Ca bệnh xác định là người có bằng chứng xét nghiệm xác nhận nhiễm virus Nipah thông qua phát hiện RNA của virus. Hướng dẫn nhấn mạnh nguyên tắc chung trong điều trị là cách ly và kiểm soát nhiễm khuẩn. Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, điều trị hỗ trợ tích cực và điều trị triệu chứng là chính.
Tất cả ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định phải nhập viện và cách ly ngay tại phòng cách ly riêng biệt hoặc khu vực chuyên biệt; không cho phép người nhà hoặc người không có nhiệm vụ vào thăm người bệnh trong khu vực cách ly.
Điều trị bệnh do virus Nipah thế nào?
Trong điều trị triệu chứng, hướng dẫn nêu rõ việc sử dụng paracetamol để hạ sốt và chống chỉ định NSAID do nguy cơ biến chứng chảy máu hoặc hội chứng Reye.
Người bệnh được hỗ trợ điều trị các cơ quan tổn thương, hỗ trợ hô hấp tùy tình trạng; chống co giật bằng các thuốc theo khuyến cáo; kiểm soát tăng áp lực nội sọ; đặt nội khí quản bảo vệ đường thở và thở máy trong trường hợp hôn mê sâu.
Kháng sinh chỉ sử dụng khi có bằng chứng nhiễm khuẩn thứ phát. Việc cân bằng dịch và điện giải được yêu cầu duy trì thông qua đường uống hoặc truyền tĩnh mạch. Các thuốc kháng virus hiện đang nghiên cứu và chưa có khuyến cáo chuẩn.
Theo Bộ Y tế, hiện chưa có vắc xin phòng bệnh do virus Nipah. Các biện pháp phòng bệnh chủ yếu dựa vào ngăn chặn đường lây truyền theo quy định của Bộ Y tế.
Các biện pháp phòng chống dịch bệnh do virus Nipah
Theo đó, để chủ động, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau:
1. Hạn chế đến khu vực có dịch bệnh do virus Nipah nếu không thực sự cần thiết.
2. Tự theo dõi sức khỏe, trong vòng 14 ngày kể từ khi về từ vùng dịch, nếu có các triệu chứng như: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, chóng mặt, buồn ngủ, lú lẫn, co giật cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất, hạn chế tiếp xúc với người khác, thông báo rõ tiền sử dịch tễ cho nhân viên y tế.
3. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm: thực hiện "Ăn chín, uống sôi", rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn, uống các loại trái cây có dấu hiệu bị động vật (dơi, chim) cắn hoặc gặm nhấm; tránh uống nước nhựa cây (như nhựa cây thốt nốt, nhựa dừa sống hoặc chưa qua chế biến).
4. Không tiếp xúc gần với động vật có khả năng lây truyền cao như là dơi ăn quả; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật.
5. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, vật phẩm ô nhiễm từ người bệnh; cần sử dụng khẩu trang, găng tay và đồ bảo hộ cá nhân khi chăm sóc, điều trị người nghi ngờ, mắc bệnh, sau đó rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/cong-thuc-phong-chong-dich-benh-do-virus-nipah-bo-y-te-179260215154905181.htm