Chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp trên hành trình kỷ nguyên số

GS.TS Phạm Tất Dong
11:20 - 07/04/2026

Bài viết của tôi như một ý tưởng và cũng là một kiến nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp, hoặc nói cách khác là đào tạo nghề cho đúng hướng với nhu cầu nhân lực phát triển đất nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (1/2026) đặt ra nhiều yêu cầu quan trọng đối với công tác đào tạo nghề, hướng đến xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, đẩy mạnh chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên tri thức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đại hội đề ra những yêu cầu sau:

1. Đột phá chất lượng đào tạo và gắn kết thị trường

- Đào tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng về nhân lực của thị trường lao động theo xu hướng phục vụ nền sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng.

- Gắn kết đào tạo nghề với nghiên cứu khoa học và công nghệ, bám sát xu thế phát triển giáo dục nghề nghiệp trên thế giới.

2. Phát triển nhân lực chất lượng cao và trọng dụng tài năng xuất phát từ đào tạo nghề, đặc biệt là nghề trong lĩnh vực trọng điểm

- Tập trung vào công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, xuất khẩu.

- Đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các lĩnh vực có năng lực tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn.

3. Đổi mới triệt để nội dung và phương pháp đào tạo nghề

- Tăng cường kiến thức, kỹ năng nghề hiện đại.

- Nâng cao năng lực số.

- Phát triển tư duy phản biện, tư duy sáng tạo.

- Tăng cường trải nghiệm.

4. Hội nhập quốc tế và hiện đại hóa

- Quốc tế hóa và hiện đại hóa các cơ sở đào tạo nghề.

- Đẩy mạnh dạy ngoại ngữ, coi tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai trong đào tạo nghề.

- Nâng cao năng lực và đạo đức của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp.

- Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp có đủ tài năng và đức độ để đưa việc đào tạo nghề đạt chất lượng cao.

- Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục nghề.

I. Những vấn đề mà chủ trương đổi mới giáo dục nghề nghiệp phải tính đến trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIV (2026-2031)

Có những vấn đề sau đây làm bối cảnh cho sự đổi mới giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, nhiệm kỳ (2026-2031.

1. Chuyển giáo dục nghề nghiệp từ sự quản lý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về sự quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Việc chuyển giao quyền lực quản lý này không đơn thuần là việc bộ máy đào tạo nghề được đặt dưới sự điều hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo với toàn bộ cơ chế vận hành của nó đã từng tồn tại khi còn thuộc về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, hơn nữa, nó không là một dấu cộng đơn giản trong bộ máy điều hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Minh họa một cách thô thiển, việc chuyển đổi giáo dục nghề nghiệp sang Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý không chỉ đơn thuần là một "kĩ thuật ghép cành" (Grafting) trong nông nghiệp thường làm: Cành được ghép vẫn song song tồn tại với cây gốc (Rootstock hay Grafting stock).

Nói như vậy có nghĩa là, giáo dục nghề nghiệp sẽ phải là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống giáo dục quốc dân, có mối quan hệ chặt chẽ, liên thông, hỗ trợ... với các lĩnh vực khác, nhất là với giáo dục đại học.

40 năm trước, năm 1986, UNESCO đã công bố một quan niệm về giáo dục mà giờ đây nó đang được thể hiện: "Xóa bỏ hàng rào giả tạo và lỗi thời giữa các ngành giáo dục, giữa các cấp, bậc đại học, giữa giáo dục chính quy với không chính quy; Xóa bỏ sự cách biệt cứng nhắc giữa giáo dục phổ thông, giáo dục khoa học kĩ thuật và chuyên nghiệp".

Trước đây, tôi coi tuyên bố trên là một tiên đoán; hiện nay, đối với tôi, đó là một nguyên tắc (nếu không nói là một triết lý trong đào tạo con người).

2. Trong xã hội số, giáo dục nghề nghiệp tập trung đào tạo những lao động tri thức (Knowledge worker)

Mô hình đào tạo của giáo dục nghề nghiệp trong xã hội số đã khác xa với mô hình đào tạo thợ trong xã hội công nghiệp. Nếu như trong xã hội công nghiệp, người thợ/công nhân làm việc với máy sản xuất độc lập hoặc những lao động chân tay thì trong hệ thống sản xuất số, họ làm việc theo hệ thống tích hợp các công nghệ số với nhiều loại hình thợ/công nhân khác nhau.

Dưới đây là bảng nói lên sự phân biệt này:

Xã hội công nghiệp

Xã hội số

Mục tiêu đào tạo

Thợ/công nhân đứng máy độc lập hoặc lao động kỹ thuật đơn giản

Thợ/công nhân trong hệ thống sản xuất tích hợp số.

Mô hình đào tạo

- Thợ/công nhân đứng máy (workers)

- Lao động với kỹ thuật đơn giản (Laborers)

- Thợ/công nhân vận hành (Opterators).

- Kỹ thuật viên (Technican).

- Thợ/công nhân tri thức (Knowledge workers)

- Người lao động trên nền tảng (Platform workers)

Môi trường lao động

Gara nhỏ, xưởng sản xuất truyền thống

Nhà máy thông minh, dây chuyền tự động thông minh

Thiết bị sản xuất

Máy công cụ riêng lẻ, thiết bị cầm tay

Robot, dây chuyền đồng bộ IoT

Khắc phục sự cố

Kinh nghiệm sửa chữa trực tiếp

Chẩn đoán qua phần mềm, tư duy hệ thống

3. Cấu trúc nhân sự của nhân lực chất lượng cao trong tổ chức (đơn vị sản xuất, kinh doanh)

Trong đơn vị sản xuất chuyển đổi số, nhân sự của một tập thể (nhóm) lao động có nhiều loại hình khác nhau, bao gồm:

*Nhóm chuyên gia công nghệ số:

- Nhà phát triển phần mềm (Software Developer).

- Chuyên gia an ninh mạng (Cybersecurity Specialist, Cybersecurity expert).

- Kỹ sư đám mây (Cloud Engineer, Cloud Computing Engineer).

- Nhà khoa học dữ liệu (Data Scientist).

- Chuyên gia trí tuệ nhân tạo và máy học (AI và Learning Machine expert).

*Nhóm hỗ trợ chuyển đổi số:

- Chuyên gia xây dựng lộ trình, chuyển đổi số của doanh nghiệp (Digital Transformation Roadmap Specialist).

- Cán bộ quản lý dự án công nghệ (Technology Project Manager).

- Nhà thiết kế trải nghiệm người dùng (User Experience Disigner - UX Disigner/UI Disigner).

*Nhóm vận hành và duy trì hệ thống:

- Kỹ sư hệ thống (System Engineer).

- Chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật (Technical Support Specialist/Engineer).

*Những công nhân tri thức:

Các loại thợ (công nhân kỹ thuật) trực tiếp làm ra sản phẩm trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác nhau trên các vị trí việc làm khác nhau (Knowledge workers).

*Cán bộ quản lý nguồn nhân lực:

Cán bộ quản lý nguồn nhân lực có nhiều loại với những chức năng khác nhau như quản lý về chiến lược (HR Director/Manager), hành chính (HR Admin), tuyển dụng (Recruiter), đào tạo (Học tập và phát triển - Learning & Development), chuyên viên tiền lương và phúc lợi.

Như vậy, khi nói đến nhân lực là phải hiểu cấu trúc nhân sự của tập hợp những người lao động trong một cơ sở sản xuất hay một tổ chức công tác. Chất lượng cao của nhân lực thể hiện ở sự tổng hòa các năng lực của tập hợp này trước một công việc, một sự nghiệp nhất định.

Với cách hiểu về mục tiêu đào tạo của hệ thống dạy nghề do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã chuyển về cho Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, hệ thống này chỉ có chức năng đào tạo công nhân và nhân viên kĩ thuật là chính (hệ trung cấp nghề và cao đẳng nghề), với việc đào tạo công nhân có tay nghề bậc 5 là cao nhất. Do thiếu một số kiến thức phổ thông cần thiết, những người tốt nghiệp trung cấp nghề không có cơ hội theo học đại học.

Những người tốt nghiệp trường Cao đẳng nghề sẽ đạt tay nghề bậc 5, nếu có nhu cầu liên thông học lên đại học thì họ sẽ có đủ điều kiện. Song, hệ trường cao đẳng nghề lại không đủ năng lực đào tạo rất nhiều nghề mà trong mục 3.I đã đề cập. Với tình trạng đó yêu cầu phổ cập giáo dục bậc trung học cũng như yêu cầu đào tạo nghề hiện đại mà chỉ có thể thực hiện ở trường đại học sẽ mặc nhiên không được phụ huynh và học sinh đón nhận cả trường trung cấp nghề lẫn cao đẳng nghề hiện nay.

Chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp trên hành trình đi vào kỷ nguyên số - Ảnh 1.

II. Những yêu cầu đặt ra với giáo dục nghề nghiệp trong tham gia cách mạng công nghiệp 4.0 và sứ mệnh trong kỷ duyên số

Đi vào kỷ nguyên số, tiếp cận và tham gia vào cách mạng công nghiệp 4.0. Những yêu cầu mà nền kinh tế số đặt ra cho công việc đào tạo nghề gồm:

1. Đáp ứng nhu cầu lao động chất lượng cao

- Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi rất nhiều về cơ cấu lao động. Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi rất nhiều về kỹ năng, đòi hỏi người lao động phải thích ứng nhanh với sự thay đổi này. Nhiều nghề mới xuất hiện, đòi hỏi người lao động học hỏi thêm để có năng lực chuyển đổi nghề, tránh rơi vào hoàn cảnh thất nghiệp.

- Xây dựng lại chương trình đào tạo nghề, đổi mới phương pháp đào tạo, hình thành đội ngũ lao động chất lượng cao để làm việc trong hệ thống sản xuất sử dụng các công nghệ như Trí tuệ nhân tạo, Dữ liệu lớn, Chuỗi khối, điện toán đám mây, In 3D, robot nghệ thông minh...

2. Thúc đẩy ứng dụng công nghệ số

- Trong hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ cần nhanh chóng nâng cao trình độ về công nghệ số để bảo đảm quy trình đào tạo ứng dụng các công nghệ số cần thiết.

- Việc ứng dụng công nghệ số trong đào tạo nghề phải nhanh chóng giúp người học làm quen với hệ thống sản xuất tự động và dây chuyền sản xuất thông minh.

- Giảng dạy về công nghệ số phải được coi là nền tảng để giúp học viên có thêm những kỹ năng cần cho việc chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng trong sản xuất trên mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân.

3. Nâng cao cao năng lực cạnh tranh và thích ứng

- Sự cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường trong nước và thế giới phụ thuộc vào hàm lượng tri thức hiện đại trong đó. Sự kết tinh tri thức mới trong sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào những công nghệ cao.

- Để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, việc đào tạo nghề nhất thiết phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Người lao động phải được rèn luyện thường xuyên để có được tư duy sáng tạo nhạy bén và những kỹ năng số luôn được đổi mới.

- Cơ sở đào tạo nghề phải tổ chức theo mô hình "Nhà trường - doanh nghiệp" (Mô hình đào tạo kép), chú trọng năng lực thực hành thông qua các hình thức đào tạo trải nghiệm thay vì đào tạo chạy theo lý thuyết.

- Cùng với việc chăm lo cho người học những kỹ năng về chuyên môn -nghiệp vụ (kỹ năng cứng), phải có chương trình đào tạo những kỹ năng mềm như kỹ năng xanh, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng hợp tác.

4. Tăng cường hợp tác quốc tế

Để hàng hóa Việt Nam vươn nhanh ra thế giới bằng năng lực cạnh tranh, cần thấy rằng, đang có nhiều cơ hội cho kinh tế nước phát triển nhờ các Hiệp định Thương mại tự do, qua đó có thể thu hút dòng vốn đầu tư từ bên ngoài và tham gia sân chơi sâu hơn vào mạng lưới sản xuất khu vực. Chính vì vậy, việc đào tạo nghề cần phải có sự giúp đỡ của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Sự hợp tác quốc tế có thể mang lại nhiều điều cần thiết như kinh nghiệm đào tạo nghề, chương trình đào tạo nghề, xu thế phát triển nghề và việc xây dựng nhân lực chất lượng cao, trao đổi cán bộ giảng dạy và đào tạo nghề, tranh thủ vốn đầu tư để xây dựng các cơ sở dạy nghề hiện đại.

Chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp trên hành trình đi vào kỷ nguyên số - Ảnh 2.

III. Kiến nghị về một số giải pháp tổ chức lại giáo dục nghề nghiệp

Với những vấn đề chúng tôi đặt ra trên đây, cần có những giải pháp cụ thể để hiện thực hóa các ý tưởng đó. Xin đề xuất mấy giải pháp:

Giải pháp 1: Xếp sắp lại cơ quan quản lý giáo dục nghề nghiệp hiện tại ở Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Sau khi chức năng giáo dục nghề nghiệp từ Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chuyển sang Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên được thành lập. Với cách hiểu của tôi, đây là mảnh ghép 2 tổ chức quản lý rất khác nhau về chức năng và nhiệm vụ, nói nôm na là "đồng sàng dị mộng".

Giáo dục nghề nghiệp (Vocational Education) có sứ mệnh đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp, tay nghề cao cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Hệ thống này giúp người học phát triển toàn diện về đạo đức, kỹ năng nghề, lối sống hiện đại lành mạnh, đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế số khi quốc gia đi vào chương trình chuyển đổi số và phát triển trong kỷ nguyên số.

Giáo dục thường xuyên (Continuing Education) là chương trình học tập dành cho người lớn nhằm cập nhật kỹ năng, kiến thức sau giáo dục chính quy. Theo tôi hiểu, lâu nay ta hiểu không chính xác về khái niệm "Giáo dục thường xuyên", coi nó là một ngành học, thực chất nó là chính sách quốc gia về giáo dục, nhằm bảo đảm con người được học tập thường xuyên liên tục từ lọt lòng đến khi qua đời. Đáng ra chúng ta phải sửa thuật ngữ "Giáo dục thường xuyên" bằng thuật ngữ "Giáo dục người lớn".

Giáo dục người lớn (Adult Education) là một ngành chuyên môn mà Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm quản lý. Nhiệm vụ này không thể chia sẻ cho các bộ khác, càng không phải là nhiệm vụ của một tổ chức xã hội.

Giáo dục người lớn có sứ mệnh tạo cơ hội học tập suốt đời, giúp người lớn cập nhật kiến thức, kỹ năng mới để nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như chất lượng việc làm (trong nghề), giúp cho người lớn thích ứng ứng với những thay đổi của công nghệ,tham gia tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi nghề nghiệp.

(Giáo dục người lớn tạo nhân lực tại chỗ chất lượng cao, còn giáo dục thế hệ trẻ trong hệ thống đào tạo K.12 và Đại học thì tạo nguồn nhân lực tương lai cho đất nước).

Với cách hiểu của tôi, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo giải quyết sự bất hợp lý trên đây như sau:

- Đưa giáo dục nghề nghiệp vào sự quản lý của Vụ Giáo dục đại học (vì giáo dục đại học và giáo dục nghề đều là giáo dục chuyên nghiệp) có thể đặt tên lại là: "Vụ giáo dục đại học và chuyên nghiệp".

- Giữ nguyên Vụ giáo dục thường xuyên như cũ về phương diện tổ chức, đặt tên là "Vụ giáo dục người lớn".

Giải pháp 2: Hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay cần được xây dựng theo một cấu trúc hợp lý: Hệ giáo dục học theo hình thức chính quy dành cho thế hệ trẻ (bao gồm cả thanh niên học nghề) và Hệ giáo dục học theo hình thức không chính quy dành cho người lớn.

Trong Hệ thống giáo dục chính quy có giáo dục Mầm non, giáo dục phổ thông (gồm tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông). Không nên ghép cấu trúc sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề vào cấu trúc giáo dục phổ thông.

Việc ghép như hiện nay sẽ không được dân hưởng ứng và hiệu quả là nó sẽ không phát triển. Lý do cơ bản ở đây là nhà nước không chủ trương phổ cập giáo dục trung cấp nghề, cho nên nếu học xong trung cấp nghề rồi mới học tiếp để phổ cập giáo dục phổ thông thì sẽ giống như phải thực hiện một "thao tác thừa" rất không hợp lý.

Trong hệ giáo dục trung học phổ thông nên có 2 loại trường: Trường Trung học phổ thông cơ bản và trường Trung học phổ thông kỹ thuật. Loại hình 1 hướng học sinh tốt nghiệp theo hệ đại học nghiên cứu; Loại hình 2 dành cho học sinh bộc lộ tài năng về kỹ thuật và công nghệ, có triển vọng thành chuyên gia, tài năng về phát triển công nghệ và kỹ thuật"
GS.TS Phạm Tất Dong

Nếu thực hiện cách xây dựng hệ trung học phổ thông như vậy thì với học sinh trung học phổ thông, ta sẽ không "phân luồng" (một cách gần như hoàn toàn thất bại từ trước đến nay) mà tiến hành hướng học (tiếng Anh: Educational guidance; tiếng Pháp: Orientation scolaire), hướng dẫn học sinh học xong trung học cơ sở chọn trường trung học phổ thông kỹ thuật nếu có năng lực trội về khoa học kỹ thuật hoặc chọn trường Trung học phổ thông cơ bản nếu giỏi nhiều môn khoa học xã hội, nhân văn. Đối với học sinh trung học phổ thông, nhà trường sẽ hướng nghiệp, hướng dẫn các em chọn trường đại học.

Giải pháp 3: Tiến hành việc học tập suốt đời trong đội ngũ lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất... theo tinh thần "Bình dân học vụ số".

Hơn ai hết, những lao động kỹ thuật phải cập nhật kịp thời (By day learning) những kiến thức và kỹ năng mới, bởi với sự tác động của trí tuệ nhân tạo và nhiều công nghệ mới khác, vòng đời của công nghệ sản xuất sẽ rút ngắn nhanh chóng. Không học nhanh và kịp thời sẽ bị gạt ra khỏi hệ thống sản xuất hiện đại.

Các tổ chức sản xuất phải đưa học tập thường xuyên vào đơn vị của mình, tạo nên vốn tri thức của tổ chức và phải coi xây dựng các tổ chức học tập (Learning Organizations) như một yêu cầu bắt buộc trong doanh nghiệp và các tập đoàn sản xuất.

Giải pháp 4: Thúc đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo nghề với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Công việc này sẽ mang lại những lợi ích lớn sau đây:

- Nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế thông qua việc tiếp cận các chương trình, giáo trình và nguồn học liệu phong phú và bổ ích. Nên ưu tiên thiết lập quan hệ hợp tác với Đức, Nhật, Singapore... những quốc gia có nhiều kinh nghiệm tiên tiến về lĩnh vực này.

- Thông qua hợp tác quốc tế, nhanh chóng nâng cao trình độ tay nghề của giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế.

- Sinh viên học nghề sẽ có nhiều cơ hội rèn luyện kỹ năng nghề, nâng cao trình độ ngoại ngữ, có nhiều điều kiện để rèn luyện về năng lực và phẩm chất thành "Công dân toàn cầu".

- Thu hút được nhiều dự án quốc tế để đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại từ các nguồn tài chính bên ngoài.

Giải pháp 5: Xây dựng lại Thể chế giáo dục nghề nghiệp (Vocational Training Institution) theo đường lối giáo dục của Đảng đã được ghi vào Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết của Bộ Chính trị số 71-NQ/TW (22/8/2025) về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Trong Nghị quyết 71-NQ/TW, về mục tiêu phát triển đến năm 2035 có sự khẳng định: "Hệ thống giáo dục và đào tạo tiếp tục được hiện đại hóa, có bước tiến mạnh, vững chắc về tiếp cận, công bằng và chất lượng. Hoàn thành phổ cập trung học phổ thông (tôi tự tô đậm mệnh đề này) và tương đương".

Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Nghị quyết 71-NQ/TW có những ý chỉ đạo cụ thể: "Phân cấp mạnh quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp về chính quyền địa phương. Tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhất là đào tạo kỹ năng nghề trong những lĩnh vực công nghệ cao. Đầu tư hiện đại cho một số trường cao đẳng chất lượng cao đẳng chuẩn quốc tế".

Với yêu cầu sắp xếp lại các tổ chức một cách tinh và gọn, căn cứ vào các ý kiến chỉ đạo trên đây tôi đề xuất một cách làm như sau:

- Những trường sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề sẽ giao cho chính quyền địa phương quản lý.

- Một số trường trung cấp nghề (nếu cần) có thể chuyển thành trường trung học phổ thông kỹ thuật để thực hiện chủ trương Phổ cập giáo dục trong Trung học phổ thông. Loại hình trường này hướng học sinh học các trường đại học đào tạo chuyên gia cho các lĩnh vực công nghệ và kỹ thuật.

- Những trường cao đẳng nghề được đầu tư để nâng cấp thì tốt nhất là nâng nâng lên thành trường đại học ở địa phương hoặc cho nhập vào trường đại học chuyên ngành ở Trung ương.

- Theo cách này, Bộ Giáo dục và Đào tạo không cần có Cục giáo dục nghề nghiệp. Trong trường hợp không có Cục này nữa thì giáo dục thường xuyên trở lại thành vụ như trước đây và gọi là Vụ giáo dục người lớn. Và việc sửa đổi Luật giáo dục nên tiếp tục cho đến khi đạt được ưu việt.

Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/chuyen-doi-so-giao-duc-nghe-nghiep-tren-hanh-trinh-ky-nguyen-so-179260407094718414.htm