Xây dựng mô hình quản trị tài chính thông minh tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền cấp xã

07:00 - 25/08/2026

Việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền quản lý của cấp xã ở Hưng Yên tạo ra không gian quản trị mới: tinh gọn đầu mối, tăng quy mô, mở rộng phạm vi và yêu cầu cao hơn về hiệu quả quản trị. Đây là cơ hội để đổi mới căn bản phương thức quản lý là tài chính.

Bài viết của Th.S, NGƯT Bùi Ngọc Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học, công nghệ - Hội Khuyến học tỉnh Hưng Yên

1. Đặt vấn đề

Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp tạo ra yêu cầu mới đối với tổ chức, quản lý và sử dụng nguồn lực công, trong đó có nguồn lực dành cho giáo dục. Đối với tỉnh Hưng Yên, yêu cầu này càng rõ nét khi mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở thuộc ủy ban nhân dân cấp xã cấp xã quản lý được tổ chức, sắp xếp lại theo hướng tinh gọn đầu mối, tăng quy mô trường, sử dụng hiệu quả đội ngũ, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư.

Quyết định số 2418/QĐ-UBND, ngày 05 tháng 8 năm 2026 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hưng Yên đã "Phê duyệt Phương án tổng thể sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập" xác định việc sắp xếp không chỉ nhằm giảm số lượng đầu mối mà phải "chuyển trọng tâm từ giảm đầu mối cơ học sang tái cấu trúc mạng lưới cơ sở giáo dục theo quy mô dân số, phân bố dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho người học và nâng cao chất lượng giáo dục"; đồng thời gắn sắp xếp mạng lưới với đổi mới quản trị nhà trường, tinh gọn đầu mối, sử dụng hiệu quả nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình.

Theo phương án tổng thể, đối với trường học công lập thuộc ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông được sắp xếp để hình thành các trường đồng cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; khuyến khích hình thành cơ sở có quy mô phù hợp, đồng thời xem xét các trường hợp đặc thù.

Sự thay đổi về mạng lưới đặt ra một vấn đề rất quan trọng: nếu quy mô tổ chức thay đổi mà phương thức quản trị tài chính vẫn vận hành theo cách cũ thì hiệu quả của việc sắp xếp sẽ khó đạt được đầy đủ. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy "quản lý kinh phí" sang quản trị tài chính thông minh: lập kế hoạch dựa trên dữ liệu, phân bổ theo nhu cầu và mục tiêu chất lượng, kiểm soát chi tiêu theo kết quả, công khai minh bạch, số hóa quy trình và tăng cường trách nhiệm giải trình.

Bài viết đề xuất một mô hình có thể áp dụng thống nhất tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền cấp xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.

Xây dựng mô hình quản trị tài chính thông minh tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền cấp xã - Ảnh 1.

Ngày 17/8, Đảng uỷ, HĐND, UBND xã Vũ Thư (Hưng Yên) tổ chức hội nghị công bố các quyết định thành lập trường học; quyết định thành lập tổ chức Đảng trong trường học sau sắp xếp; quyết định bổ nhiệm cán bộ quản lý các trường học sau sắp xếp.

2. Bối cảnh và yêu cầu mới đối với quản trị tài chính cơ sở giáo dục

Phương án sắp xếp của tỉnh Hưng Yên cho thấy quy mô thay đổi rất lớn. Đối với các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và liên cấp tiểu học và trung học cơ sở thuộc cấp xã, số liệu tổng hợp từ Phụ lục II cho thấy:

Loại hình trường

Trước sắp xếp

Sau sắp xếp

Giảm

Tỷ lệ giảm

Mầm non

446

142

304

68,2%

Tiểu học

197

140

57

28,9%

Trung học cơ sở

187

111

76

40,6%

Liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở

254

0

254

100%

Tổng cộng

1.084

393

691

63,7%

Các con số này cần được hiểu đúng: 254 trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở không đơn thuần bị "xóa bỏ", mà theo định hướng sắp xếp, các trường liên cấp được tổ chức lại theo hướng hình thành các trường đồng cấp; do đó, sau sắp xếp hình thành 142 trường mầm non, 140 trường tiểu học và 111 trường trung học cơ sở. Đây là thay đổi quan trọng về đầu mối quản trị, không đồng nghĩa với việc xóa bỏ toàn bộ cơ sở vật chất hoặc điểm trường hiện hữu.

Phương án tổng thể cũng xác định sau sắp xếp toàn tỉnh Hưng Yên còn 393 cơ sở giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý là những nhóm có mức giảm đáng kể.

Điều này tạo ra ít nhất 5 yêu cầu mới đối với quản trị tài chính:

(1) Quản trị nguồn lực phải phù hợp với quy mô trường mới.

(2) Phân bổ kinh phí phải dựa trên dữ liệu học sinh, lớp học, đội ngũ, cơ sở vật chất và mức độ cần thiết.

(3) Phải kiểm soát tốt tài sản, cơ sở vật chất sau sáp nhập.

(4) Phải hạn chế tình trạng "bình quân kinh phí" nhưng không phản ánh đúng nhu cầu.

(5) Phải tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Đặc biệt, phương án tổng thể đã chỉ ra những hạn chế hiện hữu: tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ; khó khăn trong bố trí, sử dụng đội ngũ; phân bổ kinh phí theo số biên chế gây khó khăn cho cơ sở thiếu biên chế; nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất còn hạn chế… Đây chính là cơ sở thực tiễn để chuyển sang mô hình quản trị tài chính thông minh.

3. Quan niệm về quản trị tài chính thông minh trong trường công lập thuộc thẩm quyền quản lý cấp xã

Trong phạm vi bài viết, đề xuất quản trị tài chính thông minh được hiểu là:

Hệ thống quản trị trong đó mọi quyết định về huy động, phân bổ, sử dụng, kiểm soát, đánh giá nguồn lực tài chính được thực hiện dựa trên dữ liệu, mục tiêu chất lượng giáo dục, mức độ ưu tiên, hiệu quả đầu ra, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, có sự hỗ trợ của công nghệ số.

Như vậy, quản trị tài chính thông minh không đồng nghĩa với "chi ít nhất", mà là:

Chi đúng → chi đủ → chi đúng thời điểm → chi đúng mục tiêu → chi có kiểm chứng → tạo ra giá trị giáo dục cao nhất.

Có thể khái quát bằng công thức: Dữ liệu → Dự báo → Lập ngân sách → Phân bổ → Thực hiện → Giám sát → Đánh giá kết quả → Điều chỉnh.

Đây là một chu trình tài chính khép kín, thay cho phương thức quản lý thiên về lập dự toán đầu năm và quyết toán cuối năm.

4. Xây dựng mô hình quản trị tài chính thông minh

Xây dựng mô hình quản trị tài chính thông minh tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền cấp xã - Ảnh 2.

Mô hình được đề xuất gồm 5 trụ cột, 10 thành phần và 1 quy trình quản trị khép kín. Đồ hoạ có sử dụng AI

Trụ cột 1: Quản trị tài chính dựa trên dữ liệu

Mỗi trường cần xây dựng "hồ sơ dữ liệu tài chính - nguồn lực" gồm tối thiểu: số học sinh; số lớp; số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; quỹ lương; diện tích đất; phòng học và phòng chức năng; thiết bị; tài sản; điện, nước, vệ sinh, bảo trì; các khoản thu hợp pháp; nguồn ngân sách; nguồn xã hội hóa; nhu cầu đầu tư; các khoản chi thường xuyên…

Đặc biệt, sau sáp nhập cần hình thành cơ sở dữ liệu tài sản thống nhất, tránh tình trạng tài sản phân tán ở nhiều cơ sở, điểm trường nhưng không được quản lý đầy đủ.

Trụ cột 2: Lập ngân sách theo nhu cầu và mục tiêu

Không nên chỉ lập dự toán theo phương thức "năm trước cộng thêm một tỷ lệ".

Mỗi trường cần xây dựng ngân sách theo 4 nhóm:

(1) Chi bắt buộc: tiền lương, các khoản đóng góp, điện, nước, vệ sinh, bảo đảm hoạt động tối thiểu.

(2) Chi duy trì chất lượng: thiết bị dạy học, thư viện, công nghệ thông tin, bảo trì, chuyên môn.

(3) Chi phát triển: chuyển đổi số, phòng học bộ môn, STEM, AI, học liệu số, cải thiện môi trường giáo dục.

(4) Chi ưu tiên đặc thù: hỗ trợ học sinh khó khăn, điểm trường xa, cơ sở có điều kiện đặc biệt hoặc nhu cầu cấp thiết…

Cách tiếp cận này giúp chuyển từ "phân bổ theo đầu vào" sang "phân bổ theo nhu cầu và kết quả".

Trụ cột 3: Quản trị tài sản và cơ sở vật chất sau sắp xếp

Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất.

Sau sắp xếp, không nên để xảy ra tình trạng: trường giảm đầu mối nhưng tài sản vẫn quản lý theo mô hình cũ.

Mỗi xã/phường cần có bản đồ số về: trường chính; điểm trường; phòng học; phòng chức năng; đất đai; thiết bị; công trình phụ trợ; tài sản cần tiếp tục sử dụng; tài sản cần điều chuyển; tài sản cần sửa chữa; tài sản chưa sử dụng hoặc sử dụng chưa hiệu quả.

Từ đó xây dựng kế hoạch sử dụng tài sản 3-5 năm.

Nguyên tắc là: Không để tài sản công bị bỏ quên sau sắp xếp; không đầu tư mới khi tài sản hiện có còn khả năng khai thác hiệu quả.

Trụ cột 4: Số hóa quản trị tài chính

Mỗi cơ sở giáo dục cần từng bước xây dựng Dashboard tài chính nhà trường, tối thiểu theo dõi:

Nhóm chỉ số

Nội dung

Ngân sách

Dự toán - thực hiện - còn lại

Chi thường xuyên

Mức chi và tỷ trọng

Chi chuyên môn

Mức đầu tư cho hoạt động dạy học

Cơ sở vật chất

Sửa chữa, bảo trì, đầu tư

Tài sản

Tăng, giảm, điều chuyển

Nguồn thu

Ngân sách và nguồn hợp pháp khác

Hiệu quả

Chi phí/học sinh

Công khai

Tình trạng công khai tài chính

Rủi ro

Khoản chi bất thường, vượt dự toán

Kết quả

Mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục

Có thể áp dụng hệ thống cảnh báo: Xanh: trong kế hoạch; Vàng: có nguy cơ vượt hoặc chậm; Đỏ: cần kiểm tra, xử lý.

Trụ cột 5: Minh bạch và trách nhiệm giải trình

Phương án sắp xếp của tỉnh nhấn mạnh nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch trong tổ chức thực hiện. Vì vậy, quản trị tài chính thông minh phải trả lời được 5 câu hỏi: Tiền từ đâu? Phân bổ cho ai? Chi vào việc gì? Kết quả đạt được là gì? Ai chịu trách nhiệm?

Đây là nền tảng để chuyển từ "quản lý tài chính" sang "quản trị trách nhiệm tài chính".

5. Phân định trách nhiệm giữa ủy ban nhân dân cấp xã và nhà trường

Mô hình hai cấp đòi hỏi phân định rõ ai quyết định - ai thực hiện - ai kiểm tra - ai chịu trách nhiệm.

(1) Ủy ban nhân dân xã/phường

Tập trung vào: hoạch định mạng lưới; dự báo nhu cầu; tổng hợp và phân bổ nguồn lực theo thẩm quyền; quản lý tài sản công; điều phối giữa các trường; kiểm tra, giám sát; công khai và trách nhiệm giải trình; ưu tiên đầu tư theo chiến lược phát triển địa phương.

(2) Nhà trường

Tập trung vào: lập kế hoạch tài chính; quản lý và sử dụng ngân sách; quản lý tài sản; tổ chức mua sắm, sửa chữa theo thẩm quyền; kiểm soát nội bộ; công khai tài chính; đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Nguyên tắc cốt lõi: Cấp xã quản trị nguồn lực và điều phối; nhà trường chủ động sử dụng nguồn lực trong phạm vi được giao; mọi chủ thể đều phải giải trình bằng dữ liệu và kết quả.

Điều này phù hợp với định hướng của phương án tổng thể về tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình.

6. Bộ chỉ số đánh giá quản trị tài chính thông minh

Để mô hình không dừng ở khẩu hiệu, cần xây dựng Bộ chỉ số tài chính thông minh cho cấp xã và cấp trường.

Có thể sử dụng 10 chỉ số trọng tâm:

(1) Tỷ lệ thực hiện dự toán.

(2) Tỷ lệ chi đúng mục tiêu.

(3) Chi phí bình quân/học sinh.

(4) Tỷ lệ chi trực tiếp cho hoạt động chuyên môn.

(5) Tỷ lệ giải ngân đúng tiến độ.

(6) Tỷ lệ tài sản được cập nhật đầy đủ trên hệ thống.

(7) Tỷ lệ công khai tài chính đúng quy định.

(8) Tỷ lệ khoản chi được kiểm soát trước khi thực hiện.

(9) Mức tiết kiệm chi phí hợp lý.

(10) Mức độ đạt mục tiêu chất lượng giáo dục so với nguồn lực đã sử dụng.

Có thể đánh giá theo 4 mức:

Mức 1 - Tuân thủ: chủ yếu bảo đảm đúng quy định.

Mức 2 - Kiểm soát: kiểm soát được ngân sách, tài sản và rủi ro.

Mức 3 - Tối ưu: phân bổ nguồn lực dựa trên dữ liệu và hiệu quả.

Mức 4 - Thông minh: dự báo, phân tích dữ liệu, cảnh báo rủi ro và ra quyết định dựa trên bằng chứng.

7. Lộ trình triển khai tại tỉnh Hưng Yên

Có thể thực hiện theo 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1. Chuẩn hóa: thống kê toàn bộ trường, điểm trường, tài sản; chuẩn hóa dữ liệu tài chính; xác định đầu mối quản trị mới; xây dựng quy chế phối hợp Ủy ban nhân dân xã/phường - Nhà trường; chuẩn hóa quy trình lập và thực hiện ngân sách; công khai dữ liệu cơ bản.

Phương án tổng thể đặt mục tiêu các địa phương hoàn thành đề án sắp xếp cơ sở giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã trước ngày 10/8/2026 và hoàn thiện mạng lưới, bộ máy để vận hành từ đầu năm học 2026-2027.

Giai đoạn 2. Số hóa: xây dựng dashboard; quản lý tài sản số; kết nối dữ liệu trường - xã; phân tích chi phí/học sinh; cảnh báo vượt dự toán; đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản; từng bước sử dụng phân tích dữ liệu để lập ngân sách.

Giai đoạn 3. Quản trị thông minh: dự báo nhu cầu tài chính; phân bổ ngân sách theo kết quả; xây dựng mô hình so sánh hiệu quả giữa các trường; ứng dụng AI ở mức phù hợp để hỗ trợ phân tích, dự báo và cảnh báo; hình thành Trung tâm dữ liệu quản trị giáo dục cấp xã.

8. Một số giải pháp chủ yếu bảo đảm tính khả thi

Để mô hình đi vào thực tế, cần tránh ba khuynh hướng: số hóa hình thức, phân cấp nhưng không giao quyền, và giao quyền nhưng không kiểm soát.

Do đó cần thực hiện đồng bộ 6 giải pháp chủ yếu:

Một là, ban hành khung quản trị tài chính thông minh thống nhất toàn tỉnh nhưng cho phép cấp xã và nhà trường linh hoạt theo đặc điểm.

Hai là, xây dựng một bộ dữ liệu tài chính - tài sản - trường lớp thống nhất, tránh mỗi nơi một biểu mẫu.

Ba là, đào tạo hiệu trưởng, kế toán, cán bộ quản lý cấp xã về quản trị tài chính dựa trên dữ liệu.

Bốn là, tăng cường kiểm soát nội bộ thay cho tư duy chỉ dựa vào kiểm tra cuối kỳ.

Năm là, công khai những thông tin tài chính cần thiết theo đúng quy định, dễ hiểu và dễ giám sát.

Sáu là, đánh giá hiệu quả không chỉ bằng "đã chi bao nhiêu" mà bằng câu hỏi "nguồn lực đã tạo ra kết quả giáo dục gì?"

Đây cũng là hướng giải quyết những hạn chế được phương án tổng thể nhận diện, trong đó có tình trạng phân bổ kinh phí theo biên chế, nguồn lực cơ sở vật chất hạn chế và tính chủ động, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ quản lý chưa cao.

9. Kết luận

Việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền quản lý của cấp xã ở Hưng Yên tạo ra không gian quản trị mới: tinh gọn đầu mối, tăng quy mô, mở rộng phạm vi và yêu cầu cao hơn về hiệu quả quản trị. Đây là cơ hội để đổi mới căn bản phương thức quản lý là tài chính.

Mô hình quản trị tài chính trường học thông minh cần dựa trên 5 nền tảng: dữ liệu làm cơ sở, mục tiêu làm định hướng, ngân sách làm công cụ, công nghệ làm phương tiện và trách nhiệm giải trình làm nguyên tắc; được vận hành theo chu trình: Dữ liệu → Dự báo → Lập ngân sách → Phân bổ → Sử dụng → Giám sát → Đánh giá → Tối ưu.

Qua đó, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ phân bổ bình quân sang phân bổ theo nhu cầu; từ kiểm soát đầu vào sang quản trị theo kết quả, bảo đảm mỗi đồng ngân sách tạo ra giá trị giáo dục cao nhất, góp phần xây dựng nền giáo dục cấp xã hiệu quả, minh bạch, số hóa và bền vững.

Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/xay-dung-mo-hinh-quan-tri-tai-chinh-thong-minh-tai-cac-co-so-giao-duc-cong-lap-thuoc-tham-quyen-cap-xa-179260824180146171.htm