Văn hoá ngang tầm với kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị

18:17 - 10/08/2026

Phát triển văn hoá ngang tầm với kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị là định hướng chiến lược lâu dài. Nền văn hoá phát triển toàn diện, giàu bản sắc và hiện đại góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

Bài viết của: Phạm Chí Thịnh - Nguyễn Thị Minh Hằng
Đơn vị: Học viện Chính trị
Bài đã đăng trên Tạp chí in Công dân và Khuyến học số tháng 7/2026
Văn hoá ngang tầm với kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị - Ảnh 1.

ABSTRACT

Resolution No. 80-NQ/TW on cultural development, issued by the Politburo on January 7, 2026, clearly demonstrates the Party's long-term vision and profound, groundbreaking innovative thinking regarding the role of culture in the rapid and sustainable development of the country. In particular, the Resolution's new understanding places culture in the context of "national positioning", reflecting the stature of "culture on par with politics, economics, and society" in the new era of development.

Key words: Culture; economy; on par.

I. NHẬN THỨC VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản, quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người. Mặt khác, trong quan niệm của các ông, văn hóa không chỉ đóng vai trò là cơ sở, nền tảng tinh thần của xã hội, của lịch sử nhân loại, mà còn là lĩnh vực có ảnh hưởng, tác động đến tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, đến sự phát triển kinh tế, xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về vị trí, vai trò của văn hóa, văn nghệ đối với kinh tế, chính trị, xã hội đã viết: "Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá".

Theo Người, chính trị nghĩa rộng cũng là văn hóa và văn hóa nghĩ sâu cũng là chính trị, văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay khi chưa giành được chính quyền, trong Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943), Đảng ta khẳng định: "Mặt trận văn hoá là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hoá) ở đó người cộng sản phải hoạt động".

Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, nhận thức của Đảng về văn hóa phải đặt ngang tầm với kinh tế tiếp tục được phát triển theo hướng toàn diện và hiện đại hơn.

Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII "Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc"; Nghị quyết 33- NQ/TW, "Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước"… đã từng bước làm rõ vị trí, vai trò của văn hóa, "văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội".

Tại Đại hội XIII, tư duy lý luận của Đảng về văn hóa tiếp tục được nâng lên một tầm cao mới: Phát huy vai trò của văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển.

Thực tiễn phát triển văn hóa Việt Nam những năm qua cho thấy, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa đã từng bước được thể chế hóa và tổ chức thực hiện, đạt nhiều kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ rõ những điểm hạn chế của sự nghiệp phát triển văn hoá: Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa ở một số cấp, ngành và địa phương chưa thực sự đầy đủ, chưa tương xứng với các lĩnh vực, trong đó có kinh tế.

Mối quan hệ giữa phát triển văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội chưa được xử lý hài hòa, tình trạng coi trọng tăng trưởng kinh tế trước mắt, dẫn đến "công nghiệp văn hoá, công nghiệp giải trí phát triển chưa tương xứng với tiềm năng".

Công tác đấu tranh phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, các yếu tố "ngoại lai" không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam chưa thật sự kiên quyết, thậm chí có lúc, có nơi còn buông lỏng, gây bất bình, bức xúc trong nhân dân…

Những hạn chế trên cho thấy, cần thiết phải đổi mới tư duy để có một tầm nhìn chiến lược để phát huy mạnh mẽ nguồn lực văn hoá. Do đó, Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ra đời đáp ứng yêu cầu phát triển văn hoá Việt thực sự là "trụ cột", "hệ điều tiết" cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, đảm bảo văn hoá "ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội" trong kỷ nguyên phát triển mới.

II. NỘI DUNG ĐỘT PHÁ TRONG NGHỊ QUYẾT 80-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ NGANG TẦM VỚI KINH TẾ

Trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định, các cấp, ngành, địa phương đã "nhận thức đầy đủ hơn về vai trò và tầm quan trọng của văn hoá trong phát triển bền vững".

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi" là nền văn hoá hướng tới con người, là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, kết tinh trí tuệ Việt Nam và là động lực dẫn dắt sự phát triển dân tộc, độc lập, tự chủ, tự cường".

Theo đó, Nghị quyết 80-NQ/TW xác định, văn hóa không chỉ được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn phải được phát huy thành sức mạnh nội sinh, lan tỏa sang các lĩnh vực khác; văn hóa phải đặt ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội.

Ở đây, không phải là thay đổi của từ ngữ mà thể hiện một tầm nhìn mới, chỉ ra chất lượng và vị thế của văn hóa trong việc "định vị quốc gia". Tầm nhìn này không đơn thuần về mặt lý luận mà đó là một đòi hỏi cao về sự thay đổi từ tư duy quản lý sang quản trị văn hóa hiện đại; gắn phát triển văn hóa với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đồng thời xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người và bảo vệ chủ quyền văn hóa số trong kỷ nguyên phát triển mới.

Nghị quyết 80-NQ/TW, ngoài đưa ra mục tiêu chung cho từng lĩnh vực, còn chỉ rõ những chỉ tiêu cụ thể cần phải đạt tới, điều này có nghĩa là, gắn yêu cầu cao về chất lượng phát triển với định lượng cụ thể của một số lĩnh vực văn hóa, tránh những yêu cầu chung chung không đánh giá được kết quả.

Trong mục tiêu chung của ngành công nghiệp văn hóa là: Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo.

Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hoá tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo; gắn với chỉ tiêu:

- Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang".

- Tầm nhìn 2045, "công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP".

- Phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá.

Trong quan điểm chỉ đạo thứ tư khẳng định: "Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển đất nước, cho tương lai dân tộc" thì trong chỉ tiêu xác định rõ "bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn".

III. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 80-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ NGANG TẦM VỚI KINH TẾ

Một là, quán triệt, nhận thức đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về vai trò nền tảng, sức mạnh nội sinh và động lực đột phá của văn hóa trong phát triển đất nước; về quan điểm phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người, chủ quyền văn hóa số. 

Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, lãnh đạo quản lý các cấp trong thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa. 

Đề cao vai trò con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển. Tạo điều kiện thuận lợi, huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa.

Hai là, chú trọng, hoàn thiện các kết cấu văn hóa trong từng ý tưởng, từng giai đoạn hoạch định, đánh giá tác động, ban hành và thực thi chính sách phát triển từ Trung ương tới cấp tỉnh, cấp xã. 

Nội hàm văn hóa phải được xác định đồng thời cùng nội hàm kinh tế để thấm sâu vào các chiến lược, quy hoạch, đề án, dự án phát triển của các Bộ, ngành, địa phương; bảo đảm đồng bộ, tương hỗ với các chính sách, giải pháp đột phá phát triển kinh tế. 

Tuyên truyền thường xuyên, liên tục, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng về vai trò, vị trí của văn hóa đối với sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, mục tiêu, các chính sách, giải pháp đột phá của Nhà nước về phát triển văn hóa.

Ba là, nhân rộng các điển hình, gương người tốt, việc tốt, coi trọng giáo dục các hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam. 

Xây dựng môi trường thông tin trong sạch, định hướng thị hiếu lành mạnh, tiến bộ, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc ra thế giới, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, trong đó văn nghệ sĩ, trí thức, người làm công tác văn hóa, doanh nhân, nghệ nhân dân gian, người có uy tín, có tầm ảnh hưởng, chức sắc tôn giáo giữ vai trò quan trọng, phát huy vai trò nêu gương đi đầu, là hạt nhân lan tỏa văn hoá.

Ba là, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa mang bản sắc Việt Nam, gắn kết hoạt động ng­hiên cứu, sáng tác, sản xuất và kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa với khởi nghiệp sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới; tổ chức các chương trình, cuộc thi và liên hoan sáng tạo văn hóa, công nghệ cấp quốc gia, quốc tế. 

Hình thành tầng lớp công chúng văn hóa hiện đại, gắn với môi trường số và đổi mới sáng tạo, gắn với đô thị lớn, khu vực du lịch trọng điểm và cộng đồng sáng tạo nhằm góp phần nâng cao khả năng kết nối chuỗi giá trị sáng tạo trong nước và quốc tế. 

Nâng cao vai trò của Nhà nước trong hỗ trợ, dẫn dắt hình thành các nền tảng văn hóa số, không gian sáng tạo nội dung số, môi trường sáng tạo cho cộng đồng các doanh nghiệp và tổ chức sản xuất cung ứng sản phẩm, dịch vụ văn hóa thông qua các hoạt động kết nối, trao đổi. 

Đồng thời, huy động sự tham gia của các doanh nghiệp để thúc đẩy đổi mới sáng tạo văn hóa, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí. 

Hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa như: Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình, Huế, Đà Nẵng…

Bốn là, thúc đẩy phát triển các sản phẩm văn hóa, thủ công mỹ nghệ truyền thống ở các làng nghề, sản phẩm công nghiệp mang bản sắc văn hóa Việt Nam, có khả năng thương mại hóa, mở rộng thị trường; gắn bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống với đổi mới công nghệ, thiết kế, mẫu mã sản phẩm. 

Nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống công viên địa chất; thúc đẩy du lịch địa chất và các sản phẩm văn hóa - giáo dục gắn với di sản địa chất (như trường hợp Công viên địa chất Đồng Văn).

Năm là, xây dựng môi trường thuận lợi, hoàn thiện thể chế và chính sách đặc thù cho lĩnh vực văn hoá; đầu tư thỏa đáng cho giáo dục, phát hiện và bồi dưỡng tài năng; tạo không gian sáng tạo cởi mở, tôn trọng đổi mới.

Công nhận, xếp hạng và khen thưởng các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, giảng viên nghệ thuật, các cá nhân tài năng có đóng góp xuất sắc vì sự nghiệp phát triển văn hóa; gắn văn hoá với phát triển công nghiệp sáng tạo và kinh tế thị trường; đồng thời nâng cao đời sống văn hoá trong cộng đồng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hoá Việt Nam.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. 

3. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7 (2011), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. 

Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/van-hoa-ngang-tam-voi-kinh-te-theo-tinh-than-nghi-quyet-80-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-179260810181802341.htm