Trí thức - Lực lượng sản xuất chủ chốt trong nền kinh tế số

GS.TS Phạm Tất Dong
14:48 - 22/07/2026

Chúng ta đang cần đến những trí thức với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp làm nòng cốt cho lực lượng lao động trí thức hoá trong nền kinh tế số với một “tầm nhìn” thông minh vượt trội trong giai đoạn phát triển xã hội thông tin.

img
GS.TS Phạm Tất Dong
Hà Phong
22/07/2026 15:00
Trí thức - Lực lượng sản xuất chủ chốt trong nền kinh tế số - Ảnh 1.

Vào thế kỷ XIX, Karl Marx (1818-1883) đã đưa ra một dự báo thiên tài: Đến một giai đoạn phát triển xã hội nhất định, khoa học và kỹ thuật sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất mà biểu tượng điển hình của nó là nền văn minh ống khói đã tạo ra một năng suất lao động gấp cả trăm lần so với xã hội nông nghiệp, nhưng trong các nhà máy, người thợ vẫn phải dùng sức cơ bắp của mình để làm ra các sản phẩm. 

Cuộc cách mạng công nghiệp tiếp theo đó từng bước mang lại những dây chuyền sản xuất mà nhờ nó sức lao động cơ bắp dần dần được giải phóng, nhưng những người thợ vẫn là những lao động chân tay. 

Trong công xưởng, người thợ và kỹ sư cách nhau một khoảng cách khá xa về học vấn. Khoảng cách ấy là cái hố phân chia rạch ròi giữa lao động chân tay với lao động trí óc.

Lời tiên tri mà Marx (mà nhiều người coi là khả năng tiên nghiệm - Transcendence) [Đọc thêm "Suốt đời tìm kiếm hoà bình", Nhà xuất bản Thế giới, 1993] của những thiên tài đã thành hiện thực khi nền kinh tế số xuất hiện. 

Trong nền kinh tế số, trí tuệ nhân tạo và công nghệ tự động hoá đã giải phóng người thợ ra khỏi những thao tác lao động lặp đi lặp lại, vô cùng nhàm chán vì nó đơn điệu (Monotonous), nhiều khi đến mức bại đầu óc, tạo ra cái mệt thể xác và cái nhọc tinh thần.

Trong các nhà máy, xí nghiệp, giờ đây gồm các dây chuyền sản xuất tự động và thông minh, vị trí của người thợ dần dần chuyển hoá. Họ vẫn trực tiếp làm ra các sản phẩm, nhưng cơ bắp của họ không phải huy động nhiều như trước, nhưng đầu óc của họ lại cần những kiến thức khoa học và công nghệ ngày càng nhiều để vận hành hệ thống sản xuất. 

Nền sản xuất hiện đại này ngày càng yêu cầu người thợ học hỏi nhiều hơn, cập nhật kiến thức và kỹ năng mới nhanh hơn (Just - In - Time Learning), học tập đáp ứng nhu cầu tức thì, học đúng lúc, đúng kiến thức để áp dụng kiến thức ngay vào công việc. Thời đại số buộc người lao động cơ bắp phải được trí thức hoá (Intellectualization) để trở thành người lao động tri thức (Knowledge Worker).

Mặt khác, số lượng những lao động trực tiếp sản xuất, ngay cả những knowledge Worker cũng dần dần giảm đi. Trong một không gian lao động sản xuất, những chuyên gia AI, những nhà phân tích dữ liệu, những kỹ sư máy tính, những cán bộ nghiên cứu khoa học... ngày càng đông lên. 

Họ không thay thế những người thợ. Họ là người làm việc, kiến tạo ra những tri thức mới, công nghệ mới, kiến tạo các mô hình sản xuất, tiến hành những công việc mang tính đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Không có lao động nào khác thay thế họ trong lao động sáng tạo, thiết kế, lập trình, điều khiển, phân tích dữ liệu, tối ưu hoá hoạt động của hệ thống sản xuất...

Thời đại số đã làm nên một công việc mang tính lịch sử: làm cho lực lượng trí thức với chức năng hỗ trợ các công nhân trực tiếp sản xuất thành chính lực lượng sản xuất trong xã hội hiện đại thuộc kỷ nguyên số.

I. QUAN NIỆM HIỆN ĐẠI VỀ TRÍ THỨC

1. Trước hết, cần khẳng định rằng, trí thức là một nhóm ước lệ (Conventional Group), tức là một tập hợp những người không quen biết, không trực tiếp tương tác với nhau, được tập hợp theo những tiêu chí chung, chứ không phải là một tập hợp có tổ chức.

Vì là một nhóm ước lệ nên trong mỗi giai đoạn phát triển xã hội, khung tiêu chí đánh giá trí thức cũng có những nét riêng, và từ đó, khái niệm "Trí thức" cũng không giống nhau. Để cụ thể hoá vấn đề này, tôi xin dẫn ra một số định nghĩa về "Trí thức":

Vào những năm 1980-1990, tại nước Nga Xô Viết, trong các từ điển khoa học, ta thấy có những định nghĩa về "Trí thức" như sau:

Trí thức là người có học vấn và kiến thức chuyên môn sâu trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hoá và làm nghề lao động trí óc (Từ điển Tiếng Nga).

Trí thức là người làm việc lao động trí óc, có học vấn, có kiến thức nghề nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau của khoa học, kỹ thuật và văn hoá (Từ điển do C.I Ozegov chủ biên).

Trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc và thường có học vấn cao tương ứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hoá (Từ điển Bách khoa Triết học, tiếng Nga, M. 1983).

Trong giai đoạn 1995-2000, trên nền tảng các dữ liệu từ một Đề tài cấp Nhà nước về Trí thức, tôi [GS.TS Phạm Tất Dong] đã viết "Trí thức Việt Nam - Thực tiễn và triển vọng". Trong tác phẩm này, tôi đã đưa ra một định nghĩa về "Trí thức" (thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam) như sau:

Hiện nay, bắt đầu hành trình tiến vào kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo AI tổng hợp từ nhiều nguồn đã cho 3 định nghĩa về "Trí thức" như sau:

"Trí thức" giai đoạn phát triển xã hội công nghiệp: "Trí thức thời kỳ công nghiệp hoá không chỉ là người sở hữu tri thức, mà còn là người sáng tạo, khai mở những khả năng mới và chuyển hoá tri thức thành động lực phát triển".

"Trí thức" giai đoạn phát triển xã hội thông tin: "Trí thức là người có năng lực thu nhận, xử lý, sáng tạo và truyền bá tri thức, lấy thông tin làm nguồn lực chủ yếu để giải quyết những vấn đề xã hội".

"Trí thức" giai đoạn phát triển xã hội số: "Trí thức là người làm chủ dữ liệu, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để sáng tạo tri thức mới, dắt dẫn đổi mới và tạo ra những giá trị cho con người trong hệ sinh thái số".

Như vậy, "Trí thức số là người biết huy động sức mạnh trí tuệ con người và trí tuệ nhân tạo để kiến tạo tri thức mới, đổi mới văn hoá và thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội".

Trí thức - Lực lượng sản xuất chủ chốt trong nền kinh tế số - Ảnh 2.

2. Người xưa nói đến tầng lớp trí thức trong xã hội đều trân trọng coi đây là những bậc hiền tài - những người không chỉ có tài vượt trội so với số đông trong thiên hạ, mà còn là người hết mình cống hiến cho thiên hạ: Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc (lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ).

Khi đàm đạo về trí thức, nhà giáo Vũ Khiêu đã triển khai tư tưởng trên đây vào một câu nói mà tôi cho là chí lý: "Trí thức là người nhìn thấy cái mà người khác chưa thấy, lo cho cái mà người khác chưa lo". Theo ông, đó là nỗi ưu hoạn (tâm trạng luôn lo lắng, trăn trở) của trí thức. 

Từ tâm lý này, người tài năng thường luôn ám ảnh mình chưa phụng sự hết mình cho cộng đồng, cho dân tộc, và cả cho nhân loại. Điều này mang lại cho Trí thức một phẩm chất cao quý: Sự khiêm nhường. Đó là một phẩm chất cốt lõi trong nhân cách của giới trí thức chân chính.

Đó là một phẩm chất cốt lõi trong nhân cách của giới trí thức chân chính. Những người dựa vào bằng cấp, coi bằng cấp như điều kiện để tự coi mình là trí thức đều nhầm to. Sự tự khẳng định mình là trí thức chẳng khác gì một hành vi làm sụp đổ uy tín trong cộng đồng xã hội.

Đức hạnh là điều được trí thức đề cao. Jean Paul Sartre (Jean-Paul Charles Aymard Sartre) là nhà tâm lý học hiện sinh. Ông từng cho rằng, người phát hiện năng lượng nguyên tử là nhà trí thức, còn người làm ra quả bom nguyên tử thì không. Đây là một thái độ dứt khoát, rằng, trí thức không bao giờ đi ngược lại với quyền sống của con người.

Albert Einstein đưa ra một phương trình nổi tiếng E = mC2 (Năng lượng = khối lượng x tốc độ ánh sáng bình phương). Lý luận của Einstein về tương quan giữa khối lượng và năng lượng là cơ sở cho việc chế ra bom nguyên tử. 

Vì thế, khi quả bom nguyên tử được người Mỹ ném xuống Hiroshima (Nhật Bản), Einstein đã hết sức đau khổ, cực kỳ chua chát về lương tâm. 

Ông nói rằng: "Tôi là người có tâm nhưng không phải là người theo phái hoà bình tuyệt đối, điều đó có nghĩa là tôi phản đối việc sử dụng vũ lực trong mọi hoàn cảnh, trừ khi phải đối đầu với kẻ thù theo đuổi sự huỷ diệt sự sống như là mục đích tự nó. 

Tôi luôn lên án việc sử dụng bom nguyên tử chống lại Nhật Bản. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn bất lực trong việc cản trở cái quyết định oan nghiệt kia mà tôi chẳng có tí trách nhiệm gì, giống như các bạn với những hành động tội ác của người Nhật ở Triều Tiên và Trung Quốc. 

Tôi chưa bao giờ nói tôi sẽ tán thành việc sử dụng bom nguyên tử chống người Đức. Tôi quả đã tin rằng, chúng tôi phải tránh tình huống bất ngờ là nước Đức dưới quyền của Hitler có độc quyền sử dụng thứ vũ khí này".

Trí thức - Lực lượng sản xuất chủ chốt trong nền kinh tế số - Ảnh 3.

Cũng như Albert Einstein, Otto Hahn - người được thế giới coi là "Cha đẻ của hoá học hạt nhân" và là người sáng lập thời đại nguyên tử - đã choáng váng khi quả bom nguyên tử huỷ diệt kinh hoàng thành phố Hiroshima. Hahn rút về phòng riêng, rối loạn tâm thần nặng nề khiến cho mọi người lo lắng, sợ ông sẽ tự gây tổn thương gì đó cho mình.

3. Daisaku Ikeda (1928-2023), nhà lãnh đạo Hội Phật giáo Nhật Bản, tác giả, nhà giáo dục và người ủng hộ giải trừ vũ khí hạt nhân, đã đặt một vấn đề mang tính cốt lõi trong quan hệ "Trí thức - Nhân dân". 

Trong một cuộc đàm đạo giữa Ông với Linus Pauling (1901-1994)[Đọc thêm "Suốt đời tìm kiếm hoà bình", Nhà xuất bản Thế giới, 1993] - nhà hoá học, hoá sinh, nhà hoạt động vì hoà bình, tác giả và là một nhà giáo dục người Mỹ - D. Ikeda nói: "Trí thức luôn thấy mình mắc nợ xã hội, bởi xã hội đã ứng trước học vấn cho trí thức; Xã hội luôn biết ơn trí thức, bởi trí thức đã mang lại những giá trị tốt đẹp cho xã hội".

Trí thức - Lực lượng sản xuất chủ chốt trong nền kinh tế số - Ảnh 4.

TRÍ THỨC LUÔN THẤY MÌNH MẮC NỢ XÃ HỘI VÌ XÃ HỘI ĐÃ ỨNG TRƯỚC HỌC VẤN CHO TRÍ THỨC

Những nhà khoa học và công nghệ, những chuyên gia đầu ngành thuộc mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, những nhà văn hoá, những nhà lãnh đạo và quản lý xã hội, những tướng lĩnh danh tiếng... đều không bao giờ nghĩ rằng, tài năng của họ là cái bẩm sinh, cái tự có (Innate/Inborn), không tự trên trời rơi xuống. Nó là cái được hình thành, là sản phẩm muộn, là cái có sau nhờ vào hệ sinh thái xã hội.

Isaac Newton nói chí lý trong bức thư gửi Robert Hooke (1676) mang ý nghĩa tôn vinh những tri thức của các thế hệ đi trước: "If I have seen further it is by standing on the shoulders of giants" (Nếu tôi có thể nhìn xa hơn, đó là nhờ đứng trên vai những người khổng lồ). 

Những người khổng lồ mà Newton nói tới không đích danh, nhưng ai cũng hiểu đó là triết học, khoa học và toán học vĩ đại trong quá khứ. 

Người đời cũng hiểu rằng, người khổng lồ ở đây là tập hợp những con người có tầm vóc lớn lao về các lĩnh vực khoa học, triết học như Johannes Kepler và Galileo Galilei (những người tiên phong đặt nền móng cho cơ học và thiên văn học hiện đại); René Descartes và Euclid (những bậc thầy về hình học và đại số, đã cung cấp công cụ toán học thiết yếu); Robert Hooke - nhà bác học cùng thời với Newton, thường xuyên trao đổi thư từ và có nhiều tranh cãi kịch liệt với Newton.

Con người trở thành trí thức, dù là vĩ đại đến đâu, kể cả những thiên tài có một không hai trong xã hội loài người, cũng lớn lên từ giáo dục gia đình, giáo dục học đường và giáo dục xã hội cùng các thiết chế tương ứng của các môi trường giáo dục đó. Gia đình nuôi dưỡng, nhà trường đào tạo, xã hội có thiết chế giúp con người phát huy tiềm năng để trở thành năng lực.

Ý thức về "món nợ xã hội" cần phải được hoàn lại xã hội là nền tảng trách nhiệm của trí thức trước cộng đồng. Kẻ vô tâm trước món nợ này giỏi lắm trong giáo dục - đào tạo cũng chỉ là người được ăn học, chứ không phải người có học.

Món nợ xã hội được trí thức hoàn trả không phải bằng sự phục tùng, mà bằng lao động sáng tạo và trách nhiệm, nghĩa vụ phục vụ lợi ích của cộng đồng. Người trí thức hiểu rằng, xã hội đầu tư cho họ đâu chỉ đơn giản để họ có học vị, mà về cơ bản là trông đợi trí thức trên nền tảng tri thức, học vấn mà cống hiến tài năng, trí tuệ với trách nhiệm đạo đức (Ethics) và sự thấu cảm (Empathy) với đồng bào và đồng loại. Từ đó, trí thức là người luôn hoạt động theo câu hỏi: "Ta phải làm gì để người dân hạnh phúc, xã hội hưng thịnh bền vững".

Ở chiều ngược lại, xã hội biết ơn trí thức nhưng không coi họ là một tầng lớp đặc quyền, mà kỳ vọng trong những thời điểm lịch sử, trí thức sẽ là những người có tư duy độc lập, có trách nhiệm đạo đức để họ đủ sức vượt qua những giới hạn của chính họ.

Không bao giờ xã hội coi trí thức là tầng lớp đứng trên nhân dân, cũng tuyệt nhiên không đặt trí thức vào vị trí làm thuê. Xã hội với trí thức đối thoại với nhau để tìm ra những giải pháp phát triển xã hội bền vững.

Những trí thức Việt Nam đi vào kỷ nguyên số cần nung nấu câu hỏi: Ta sẽ hoàn trả cho xã hội những giá trị nào là cốt lõi cho sự phát triển đất nước hướng đến quốc gia hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc?

SỰ NHẬN DIỆN TRÍ THỨC

Một quan niệm thiếu chuẩn xác, cho rằng, trí thức là người có học vấn cao, có bằng cấp và có danh vị trong xã hội. 

Theo tôi, đã là Trí thức thì phải học rộng, được đào tạo ở bậc đại học và sau đại học. Nhưng, hình như đó là điều kiện cần. Tự mỗi người trong chúng ta đều có thể tìm những trí thức (và cả những bậc đại trí thức, những người có tài năng siêu việt) mà trong lý lịch cá nhân họ chẳng có bằng cấp nào để minh chứng họ có trí tuệ hơn người.

"Trí thức" là một danh hiệu không thể tự phong. Ai tự phong mình là "trí thức" là cực kỳ dại dột. Người hiền tài trong xã hội sẽ được dân xếp vào hàng ngũ trí thức theo đúng quy luật "Hữu xạ tự nhiên hương": Nếu sự vật có hương thơm (xạ) thì tự khắc sẽ toả hương. 

Về nghĩa bóng, câu này chỉ những người có tài năng, có phẩm chất tốt đẹp và giá trị thực thì tiếng thơm và sự công nhận từ phía xã hội sẽ lan toả tới mọi người, không cần phải tự phô trương hay tự quảng cáo.

Với những ai có bằng cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ mà kiến thức không vượt khỏi những gì đã đọc trên sách báo, không làm được những gì mà cộng đồng chờ đợi, không quan tâm đến xã hội thì, như trên tôi đã nói, họ được coi là người được học hành nhiều, mà dân không coi là người có học. 

Người có học là người có học vấn cao, làm việc hết mình để mang lại những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng. Đó là cách họ hoàn trả lại vốn đầu tư của gia đình, nhà trường và xã hội vào sự học hành của họ.

DƯỚI ĐÂY LÀ SỰ PHÂN BIỆT GIỮA "NGƯỜI ĐƯỢC HỌC" VÀ "NGƯỜI CÓ HỌC"

Trí thức - Lực lượng sản xuất chủ chốt trong nền kinh tế số - Ảnh 5.

Cần nói trước rằng, ở đây, chúng ta bàn đến trí thức trong nền kinh tế số (Digital Economy) chứ không phải là trong kinh tế công nghiệp (Industrial Economy).

Một tài liệu do AI tổng hợp cho rằng, trí tuệ con người không phải là lượng kiến thức do con người tích luỹ, mà là một trạng thái nhận thức nội tâm. 

Theo các hệ quy chiếu về cấu trúc tâm thức (consciousness - sự tỉnh táo, tâm trí có ý thức, có lương tâm - hay còn gọi là Conscious mind) thì có 5 tầng trí tuệ cơ bản:

Tầng 1 (Phân biệt): Trình độ nhận thức và phân định rõ ràng các mặt đối lập trong cuộc sống: Đúng - Sai; Phải - Trái; Tốt - Xấu; Thật - Giả; Nên - Không nên; Phải làm - Không được làm. Nhận thức này cần có trước hết khi con người đứng trước người khác, đứng trước cộng đồng hay đứng trước một sự vật, một hiện tượng.

Tầng 2 (Cội nguồn): Nhận thức sâu sắc rằng, "Cội nguồn cuộc sống xuất phát từ bản thân. Người ở bậc này ngừng đổ lỗi, dám chịu trách nhiệm hoàn toàn và biết làm chủ hoàn cảnh.

Tầng 3 (Tánh thông - Emptiness): Nhận thức được bản chất của vạn vật không độc lập tồn tại mà luôn biến đổi trong sự phụ thuộc vào các yếu tố khác. Đây là một thuật ngữ Phật giáo, cho rằng, không có cái Tôi độc lập. Cái Tôi phát triển trong mối quan hệ với hoàn cảnh và vạn vật bên ngoài.

Tầng 4 (Tự nhiên biết): Trạng thái nhận thức vượt ra ngoài học hỏi hay tư duy logic. Con người thấu hiểu, giải quyết vấn đề hoặc đưa ra giải pháp một cách trực giác. Cách hiểu mức độ nhận thức này tương đương với khả năng "nhìn xa trông rộng". Đó là Tầm nhìn (Vision).

Tầng 5 (Trùm khắp): Trạng thái trí tuệ hoà hợp tuyệt đối, nhận thức rõ vạn vật và sự vận hành của cuộc sống. Sự thấu hiểu này vượt qua mọi ranh giới về thời gian và không gian. Tôi hiểu đây là khả năng tiên nghiệm - Transcendence.

Tôi không bình luận hay phản biện về 5 tầng bậc trí tuệ, mà bằng hiểu biết không đủ nhiều của mình, tôi cho rằng, người được học nhiều giỏi lắm cũng chỉ đạt tới tầng trí tuệ 3 mà thôi, tức là, họ chưa đủ tôi luyện, học hỏi, tu dưỡng để có tầm nhìn thấy được những gì mà con người bình thường chưa thấy. 

Điều đó đi tới kết luận rằng, người được học nhiều chưa thể xếp vào nhóm "Trí thức".

Bằng hiểu biết riêng của mình, tôi xây dựng một cấu trúc những tầng bậc (Hierarchy) của trí tuệ để từ đó nhận diện tầng trí tuệ của người được coi là "Trí thức".

Trí thức - Lực lượng sản xuất chủ chốt trong nền kinh tế số - Ảnh 6.

Với sự phân tầng trí tuệ trên đây, con người được coi là trí thức khi có có tầm nhìn trong cuộc đời hoạt động của họ.

Một người dù giỏi tới đâu mà không gắn bó với dân thì họ không có sự thông tuệ [Enlightened Wisdom: Trí tuệ khai sáng, vượt trên trí thức (Beyond Knowledge) là sự kết hợp giữa sự hiểu biết rộng với lòng Từ bi (Knowledge + Compassion), là khả năng nhìn thấy bản chất ẩn sau hiện tượng (Seeing beyond appearances), ngộ được các quy luật sâu xa, những nguyên nhân gốc rễ và những hậu quả dài hạn. Nói đến Enlightened Wisdom thì cần hiểu: Intelligence + Ethics] của giới trí thức, họ thiếu tầm nhìn cần thiết và quanh quẩn với quyền lợi bé nhỏ của cái tôi mà thôi.

CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VÀ PHÁT HUY NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

1. Chúng ta đang đi vào kỷ nguyên số, một kỷ nguyên mà nhân loại coi Trí tuệ nhân tạo (AI) như nền tảng cốt lõi trong chuyển đổi số. Chúng ta đang cần đến những trí thức với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp làm nòng cốt cho lực lượng lao động trí thức hoá trong nền kinh tế số với một "Tầm nhìn" thông minh vượt trội so với đội ngũ trí thức trong giai đoạn phát triển xã hội thông tin.

Nhưng, cũng cần thống nhất trong tư duy rằng, hiện nay, AI đang hỗ trợ con người mới chỉ là AI hẹp - Narrow AI, tức là Trí tuệ nhân tạo được lập trình, thiết kế và huấn luyện để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể trong một lĩnh vực, chuyên môn. Ở trình độ này, AI chưa đạt trình độ thông minh hơn con người. Tuy nhiên, những ứng dụng của Narrow AI hiện nay đã giúp ích to lớn cho con người trong lao động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phát triển văn hoá...[Những ứng dụng quan trọng của Narrow AI hiện nay các Trợ lý ảo & Chatbot: Siri, Google Assistant, Alexa; các hệ thống gợi ý: Spotify, YouTube, Netflix; các phương tiện giao thông thông minh, tài chính và ngân hàng thông minh].

AI đang tiến bộ rất nhanh. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu AI đã dự báo một cách lạc quan. Giám đốc Google DeepMind (Demis Hassabis) cho rằng, chỉ khoảng 5-10 năm tới (tính từ 2025) sẽ xuất hiện "AI tổng quát" (Artificial Generative Intelligence - AGI). 

Đó là Trí tuệ nhân tạo có năng lực học hỏi, làm việc ngang với con người. Elon Musk còn lạc quan hơn khi cho rằng, AGI có thể đến với con người vào cuối năm 2026. Thậm chí, ông còn nhấn mạnh rằng, tiềm năng của Tesla sẽ đạt được Robot hình người Optimus và xe tự hành trước năm 2030.

Với tình hình này, khi ta "nâng cấp" đội ngũ trí thức Việt Nam, cần tính đến những yêu cầu tham vọng đối với đội ngũ này vào giai đoạn đầu kỷ nguyên số ở Việt Nam, nhưng cũng cần nhìn tới tương lai khi AGI bước vào nền kinh tế số của chúng ta.

2. Theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XIV, các doanh nghiệp đóng vai trò là lực lượng và động lực trung tâm trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội theo Chương trình chuyển đổi số.

Với tinh thần này, cần hiểu rằng, chúng ta phải tăng cường những danh nhân trí thức trong lực lượng trí thức Việt Nam hiện nay.

Sự kỳ vọng về vai trò của doanh nhân trí thức được phân định rõ ràng:

- Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt và vai trò chủ đạo dắt dẫn đầu tư công, phát triển hạ tầng cơ sở, ổn định kinh tế vĩ mô.

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ: chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp, giúp nền kinh tế số trở nên năng động linh hoạt, thích ứng nhanh với thị trường đang biến đổi nhanh và tạo ra nhiều việc làm.

- Doanh nghiệp tư nhân: là một động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Những người đứng đầu doanh nghiệp sẽ phải là doanh nhân trí thức (Intellectual Entrepreneur, Intellectual Businessman) cần được Nhà nước giúp họ phát triển nhanh những năng lực cốt lõi như:

- Tư duy kinh doanh (Business mindset): Có năng lực phân tích cơ hội, ra quyết định chiến lược, tối ưu hoá lợi nhuận và quản lý rủi ro trên các nguyên tắc kinh tế.

- Ý thức xã hội (Social Consciousness): Mỗi doanh nhân đều nhận thức được, bản thân là một "doanh nhân phụng sự" (Servant Entrepreneur), luôn tìm câu hỏi trong kinh doanh: "Tôi tạo ra giá trị nào cho xã hội?"

- Văn hoá khởi nghiệp (Startup Culture): Tiếp cận nhanh với môi trường kinh doanh năng động, nơi thời gian là tài sản quý của doanh nghiệp, tạo cấu trúc phẳng hoặc phi tập trung để có sự giao tiếp cởi mở, hợp tác, chia sẻ trách nhiệm, dân chủ trong việc trao đổi về hướng phát triển doanh nghiệp.

- Học tập suốt đời (Lifelong Learning): Mỗi doanh nhân đều có một hành trình tri thức trong cuộc sống kinh doanh, xây dựng doanh nghiệp thành một tổ chức biết học tập (Learning Organization), thực hiện phương thức tồn tại "Học tập - Phát triển" (Learning - Development).

3. Để chuẩn bị đội ngũ doanh nhân - trí thức tương lai, trường phổ thông và trường đại học cần đưa vào Chương trình đào tạo những nội dung trên đây qua các môn học và sinh hoạt trải nghiệm:

Gắn nội dung Hướng nghiệp với Khởi nghiệp, làm cho học sinh, sinh viên biết chọn nghề phù hợp và tinh thần khởi tạo doanh nghiệp. Cả 2 lĩnh vực giáo dục này đều đòi hỏi những hoạt động trải nghiệm thực tế linh hoạt và mang tính thử sức, không dừng lại ở lý thuyết sách vở.

Cung cấp những tri thức liên ngành và xuyên ngành qua từng bài học (Interdisciplinary knowledge - Transdisciplynary knowledge) nhằm giúp học sinh, sinh viên phát triển tư duy toàn diện, dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của xã hội và hệ thống nghề nghiệp, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hiểu nghề một cách sâu săc và có khả năng chuyển đổi khi cần thiết.

Huấn luyện, đào tạo cho học sinh, sinh viên những kỹ năng và lối sống trong xã hội chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, bắt kịp các xu hướng vận động của kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu...

Giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội, gắn việc học của học sinh, sinh viên với lịch sử phát triển đất nước, lợi ích cộng đồng, phát triển xã hội bền vững.

Giáo dục năng lực kiến tạo trên nền tảng trí thức hàn lâm thông qua các hoạt động thực hành, thực tập, hình thành tác phong học tốt - hành tốt, trở thành người lao động có nghề trong xã hội số.

Nghiên cứu về khái niệm "Trí thức" đã lay động trái tim tôi và làm tôi nhận thức về vai trò trí thức trong xã hội theo một hướng mới để tôi làm chủ nhiệm các đề tài khoa học:

- Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực lao động sáng tạo của giới trí thức và sinh viên (Mã số: KX.04.06; 1991-1995).

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tầng lớp trí thức - Những định hướng chính sách (Mã số: KHXH.03.09; 1997-1999).

Từ 2 công trình khoa học trên, tôi đã cho ra mắt các độc giả 2 cuốn sách:

- "Trí thức Việt Nam - Thực tiễn và triển vọng" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, 1995).

- Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2001).

Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/tri-thuc-luc-luong-san-xuat-chu-chot-trong-nen-kinh-te-so-179260722135010701.htm