Quy định về công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy
Nghị định số 322/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật.
Chính Phủ quy định mới về hồ sơ dự tuyển du học sinh học bổng ngân sách nhà nước. Ảnh minh họa: IT
Quy định mới về hồ sơ dự tuyển du sinh học bổng ngân sách nhà nước học tập
Chính phủ ban hành Nghị định số 322/2026/NĐ-CP ngày 17/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật.
Theo Nghị định, hồ sơ dự tuyển và trình tự thực hiện đối với ứng viên xin học bổng ngân sách nhà nước bao gồm:
"a) Phiếu đăng ký dự tuyển đi học ở nước ngoài (theo Mẫu số 1a tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này);
b) Công văn của cơ quan quản lý trực tiếp cử dự tuyển (đối với trường hợp có cơ quan công tác);
c) Cam kết thực hiện trách nhiệm của người được cử đi dự tuyển theo yêu cầu của cơ quan quản lý trực tiếp (đối với trường hợp có cơ quan công tác);
d) Sơ yếu lý lịch cá nhân theo quy định hiện hành, có xác nhận của cơ quan quản lý trực tiếp (đối với trường hợp có cơ quan công tác);
đ) Bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ chuyên môn, ngoại ngữ đáp ứng quy định của chương trình học bổng. Cơ quan cử đi học khai thác, sử dụng thông tin về văn bằng đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo theo quy định để kiểm tra, đối chiếu và thay thế việc nộp bản sao có chứng thực văn bằng. Trường hợp cơ sở giáo dục nước ngoài yêu cầu nộp bản giấy hoặc cơ quan cử đi học không khai thác được hoặc khai thác không đầy đủ thông tin, dữ liệu về văn bằng trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo thì yêu cầu cá nhân nộp bổ sung giấy tờ tương ứng theo quy định;
e) Giấy khám sức khỏe của cơ sở y tế cấp tỉnh xác nhận đủ điều kiện đi học nước ngoài. Cơ quan cử đi học khai thác, đối chiếu thông tin giấy khám sức khỏe của ứng viên từ Cơ sở dữ liệu nền tảng sổ sức khỏe điện tử, ứng viên không phải nộp bản giấy (trừ trường hợp cơ sở giáo dục nước ngoài có yêu cầu nộp bản giấy);
g) Các giấy tờ khác (nếu có) theo yêu cầu của chương trình học bổng và cơ quan cử đi học."
Trước đó, Nghị định 86/2021/NĐ-CP quy định cụ thể tiêu chuẩn đối với công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập:
"Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt.
Không trong thời gian bị kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Có văn bằng, chứng chỉ chuyên môn, ngoại ngữ đáp ứng quy định của chương trình học bổng và đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của chương trình học bổng.
Được cơ quan quản lý trực tiếp đồng ý cử đi học (đối với trường hợp có cơ quan công tác).
Đáp ứng các quy định hiện hành về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và các quy định của Đảng (đối với trường hợp là cán bộ, công chức, viên chức và là đảng viên)".
Nghị định cũng quy định: Du học sinh học bổng ngân sách Nhà nước được về nước thực tập, thu thập tài liệu để phục vụ chương trình học tập; được hưởng các kỳ nghỉ trong thời gian học tập theo quy định của cơ sở giáo dục nước ngoài; được về nước, đi thăm thân nhân ở nước khác (nước thứ ba) nếu được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại đồng ý.
Bên cạnh đó, được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bảo hộ về lãnh sự, bảo vệ quyền lợi chính đáng trong thời gian học tập ở nước ngoài theo quy định.
Đồng thời, được hưởng toàn phần hoặc một phần chi phí đào tạo, chi phí đi lại, sinh hoạt phí và các chi phí khác liên quan đến học tập ở nước ngoài bằng nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước hoặc do phía nước ngoài đài thọ.
Quy định về chi phí đền bù, điều kiện không phải đền bù chi phí đào tạo học tập
Một nội dung đáng chú ý khác về sửa đổi tại Nghị định số 322/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 13 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP quy định về chi phí đền bù, điều kiện không phải đền bù chi phí đào tạo.
Theo đó, chi phí đền bù là toàn bộ chi phí đào tạo gồm có học phí học tập, chi phí đi lại, sinh hoạt phí và các chi phí khác liên quan đến học tập đã được ngân sách nhà nước chi trả cho du học sinh quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định này và do cơ quan cử đi học cung cấp.
Du học sinh không phải là công chức, viên chức quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định này phải đền bù 100% chi phí đào tạo khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tự ý bỏ học, bỏ việc trong thời gian đào tạo;
b) Bị kỷ luật buộc thôi học;
c) Không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp.
Điều kiện không phải đền bù chi phí đào tạo đối với du học sinh không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bị rủi ro do thiên tai, dịch bệnh hoặc nước đến học xảy ra chiến sự có xác nhận của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại hoặc cơ sở giáo dục nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của phía nước ngoài;
b) Do bị bệnh hiểm nghèo hoặc vì lý do sức khỏe được xác nhận bởi cơ sở y tế có thẩm quyền trong nước hoặc nước ngoài về việc không đủ sức khỏe để tiếp tục học tập ở nước ngoài hoặc trường hợp du học sinh đã chết.
Trường hợp du học sinh không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp vì lý do liên quan đến lĩnh vực an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia thì cơ quan cử đi học (đối với trường hợp không có cơ quan công tác) hoặc cơ quan quản lý trực tiếp (đối với trường hợp có cơ quan công tác) xem xét, quyết định việc không phải đền bù chi phí đào tạo theo quy định tại Điều 13a Nghị định này.
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/quy-dinh-ve-cong-dan-viet-nam-ra-nuoc-ngoai-hoc-tap-giang-day-179260825073359135.htm
