Quan điểm về khuyến học của người dân Việt Nam thời quân chủ
Khuyến học ở Việt Nam thời quân chủ không chỉ có trong "phép nước" mà còn được thể hiện tại "lệ làng". Lệ làng ở đây là phong tục, tập quán nói về quan điểm khuyến học của các làng xã ghi trong Tục lệ chữ Hán hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Đền Trần Thương trên đất Hà Nam. Ảnh: wikipedia
Có thể nói, quan điểm về khuyến học của người dân Việt Nam được hình thành từ rất lâu đời. Trước khi Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam, trong tâm thức của người dân, đặc biệt là tại vùng đồng bằng Bắc Bộ đều cho rằng khuyến học là cần thiết, bởi khuyến học là để khuyến khích mọi người trong cộng đồng làng xã biết đạo lý làm người, theo phương châm: " Ngọc phải mài thì sau mới thành đồ khí, người phải học thì sau mới biết đạo lý" (Ngọc tất trác nhi hậu thành khí, nhân tất học nhi hậu tri đạo lý).
Như thế thì thấy việc khuyến học ban đầu ở nước ta chưa phải là để khuyến khích cộng đồng dấn thân vào con đường học tập, khoa cử, ra làm quan theo định hướng của Nho giáo, mà là để khuyến khích mọi người biết cư xử về đạo lý làm người, coi đó là điều căn bản.
Đồng quan điểm như vậy, người dân xã Trung Hòa, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay thuộc địa bàn tỉnh Ninh Bình) cho biết: "Người không học thì không biết đạo lý" (Nhân bất học bất tri lý).
Trong khi người dân Hà Thành (nay thuộc thành phố Hà Nội) thì khẳng định: "Học là học cái đạo lý làm người, không học thì chẳng khác gì quay mặt vào bức tường, gặp việc phải giải quyết là thấy khó".
Còn tại vùng trung du, như xã Đan Hòa, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ (nay thuộc địa bàn tỉnh Phú Thọ), người dân nơi đây ghi nhận: "Việc học là để làm người đảm đương các công việc, cho nên thiên hạ không thể không một ngày mà không học".

Trường thi Nam Định năm 1900. Ảnh: Tư liệu
Khi Nho giáo xâm nhập vào Việt Nam, lan tỏa đến các làng xã, người dân trong nước nhận ra vai trò của Nho giáo là "khí dụng quốc gia", khiến "người dân ngày càng có nhiều người theo đuổi con đường văn học" như nhận định của người dân xã Thượng Trì, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc địa bàn thành phố Hà Nội) thì việc khuyến học, làm thay đổi cuộc sống theo chiều hướng tốt hơn ngày càng được nhiều địa phương trong nước chú trọng.
Không khó để nhận thấy điều này ở người dân thôn Giáp Nhị, xã Bạch Sam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay thuộc địa bàn tỉnh Ninh Bình), khi họ nói: "Học là có ích, ngõ hầu người thành đạt thì trên thi thố các việc cho miếu đường, giúp tài kinh bang dài lâu, dưới thì lấy tài năng mà giúp làng xóm, công lao nhân nghĩa ấy lớn lắm, há đâu một ngày mà thiếu được việc học của nhà Nho".
Song cũng thừa nhận ở một nước nông nghiệp như Việt Nam, khi cuộc sống người dân luôn gặp nhiều khó khăn, trắc trở bởi thiên tai, địch họa, mất mùa, đói kém... thì đi học, đi thi, mong đỗ đạt làm quan, làm thay đổi thân phận "chân lấm tay bùn" là ước mơ chính đáng được xã hội thừa nhận.
Do vậy mới có câu thành ngữ lưu truyền ở vùng đồng bằng Bắc Bộ: "Làm nhà gỗ xoan, làm quan Tiến sĩ". Cho nên người dân xã An Khê, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông (nay thuộc địa bàn thành phố Hà Nội) tuy không nói học là để thoát nghèo nhưng luôn khuyên bảo nhau: "Ấp ta là nơi tiếp giáp vùng sơn cước, hơi có tiếng là đất sông ngòi, tại sao người ta sinh ra mới tám, chín tuổi sai đi đốn củi, thả trâu, mò ốc, bắt tôm mà không cho đi học?".
Đi liền với đó là tâm lý của người dân cho rằng sự thành đạt về học vấn, khoa bảng của một người không chỉ làm vẻ vang cho bản thân, mà còn làm vẻ vang cho một họ, một làng, một tổng, thậm chí là cả một tỉnh.
Chính vì thế người dân thôn Miếu, xã Trần Thương, huyện Nam Xang, tỉnh Hà Nam (nay thuộc địa bàn tỉnh Ninh Bình) đưa ra nhận định: "Ở nơi xóm làng, kẻ sĩ không thể không mài giũa ý chí để theo lý đức của trời, phép của dân, khiến cảm phát trong lòng mà nghĩ sâu về kẻ sĩ là người đứng đầu trong tứ dân (sĩ, nông, công, thương).
Sở dĩ người ta đối đãi có hậu với kẻ sĩ thì kẻ sĩ báo đáp lại. Không thể xem thường kẻ sĩ để học lấy tệ đoan mà về sau khiến khuôn phép của làng xóm, đức của người dân sẽ trở thành có hậu được. Muốn Nho phong chấn tác, kinh sách được giảng rõ, tuần tự ở nhà rồi tiến ra làng xóm, văn vận được hanh thông, không thể không nhờ vào sự sùng Nho trọng đạo của bản thôn".
Quan điểm về khuyến học của làng xã còn xuất phát từ cơ chế nhà nước tuyển dụng nhân tài, người dân chăm lo đào tạo được hình thành từ lâu đời. Điều này thể hiện trong các triều đại quân chủ từ triều Lý đến triều Lê Trung hưng, khi nhà nước chỉ thiết lập trường công từ cấp phủ huyện trở lên còn trường lớp ở cấp tổng, xã hoàn toàn do người dân tự lo liệu. Đây là lý do để người dân xã Yên Quần, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (nay thuộc địa bàn tỉnh Ninh Bình) bắt buộc con em phải chuyên cần học tập, nếu người nào sa đà vào tệ nạn xã hội thì phải ngăn chặn, coi đây là trách nhiệm chung của mọi người dân địa phương.
Người dân nơi đây cho biết: "Trong xã đều là con em lương gia, mỗi con em đều phải chuyên cần học tập, cung kính giữ lấy môn phong. Hút thuốc, đánh bạc sẽ làm băng hoại nhân tâm. Phàm là phụ huynh đương thời phải giáo huấn con em, nếu con em nhà nào hằng ngày du đãng, hút thuốc, đánh bạc thành thói quen, bắt được lần đầu phạt tiền 3 quan; bắt được lần hai phạt tiền 6 quan; bắt được lần ba trách cứ phụ huynh không thể dạy bảo được con em, phạt tiền 8 quan".
Sau cùng là quan điểm về khuyến học của người dân xuất phát từ thực tiễn của nền giáo dục khoa cử nước nhà. Đó là nền giáo dục thường xuyên 3 năm mở một lần thi với ba cấp độ thi Hương, thi Hội và thi Đình. Người đi học được trang bị kiến thức của ngành khoa học xã hội là chính và phải học thuộc lòng với hầu hết các môn học.
Trong môi trường đó khiến người đi học phải đầu tư nhiều thời gian, công sức mới hy vọng đỗ đạt mà khi đỗ đạt thì tuổi đã cao. Số liệu thống kê về người đỗ đại khoa (Tiến sĩ) ở nước ta cho thấy: trong số 2.079 vị đỗ Tiến sĩ biết được tuổi đỗ ở giai đoạn 1075-1919, có 37 người tuổi từ 13 đến 19, chiếm tỷ lệ 1,8%; 850 người tuổi từ 20 đến 30, chiếm tỷ lệ 41%; 798 người tuổi từ 31 đến 40, chiếm tỷ lệ 38,4%; 301 người tuổi từ 41 đến 50, chiếm tỷ lệ 14,5%; 81 người tuổi từ 51 đến 60, chiếm tỷ lệ 3,8%; 12 người tuổi từ 61 đến 68, chiếm tỷ lệ 0,5%.
Người xưa gọi đây là nghiệp khoa trường của kẻ sĩ là vì thế. Cho nên có người đầu tư cả đời vào việc học, cuối cùng mới thành danh. Ta thấy điều này ở ông Quách Đồng Dần, người xã Phù Khê, huyện Đông Ngàn (nay thuộc địa bàn thành phố Bắc Ninh) vào năm 68 tuổi, đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Tuất, niên hiệu Đức Long thứ 6 (1634) đời vua Lê Thế Tông. Đương thời ông được mọi người ca ngợi bởi sự kiên trì trong học tập bằng bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt:
Lão do đăng đệ thế xưng kỳ,
Nam quốc toàn tri lão bất suy.
Quốc thước lương phương Lưu Mã Viện,
Hộ điều khẳng nhượng Tống Hân Kỳ.
Tạm dịch:
Già còn thi đỗ đời thấy lạ,
Nước Nam đều biết lão không suy.
Quắc thước sánh ngang Lưu Mã Viện.
Giúp dân nào kém Tống Hân Kỳ.
*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long.
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/quan-diem-ve-khuyen-hoc-cua-nguoi-dan-viet-nam-thoi-quan-chu-179260831111745298.htm