PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Phát triển vốn đầu tư nước ngoài phải lấy chuyển giao công nghệ làm trung tâm

Ngô Văn Hiển
11:44 - 01/07/2026

PGS.TS Nguyễn Văn Nam (nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Thương Mại, Bộ Công thương) trao đổi với tạp chí Công dân và Khuyến học về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với tinh thần "lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ thay cho thu hút vốn".

Muốn phát triển vốn đầu tư nước ngoài phải lấy chuyển giao công nghệ làm trung tâm - Ảnh 1.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam (nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Thương Mại, Bộ Công thương) trao đổi với tạp chí Công dân và Khuyến học về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đồ hoạ: Hà Phong

Sau gần bốn thập niên đổi mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, mở rộng xuất khẩu, tạo việc làm và hội nhập quốc tế của Việt Nam. 

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy những hạn chế kéo dài về liên kết với doanh nghiệp trong nước, tỷ lệ nội địa hóa thấp và đặc biệt là hiệu quả chuyển giao công nghệ chưa đạt như kỳ vọng. 

Nhiều dự án FDI vẫn chủ yếu tận dụng lợi thế lao động giá rẻ, đất đai và các chính sách ưu đãi, trong khi năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam chưa được nâng lên tương xứng.

- Thưa PGS.TS Nguyễn Văn Nam, điểm đột phá quan trọng nhất trong Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về thu hút vốn đầu tư nước ngoài là gì?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Điểm đột phá quan trọng nhất của Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị là sự thay đổi tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. 

Trước đây, mục tiêu chủ yếu là thu hút thật nhiều vốn FDI để giải quyết việc làm, tăng trưởng xuất khẩu và bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế, thì nay trọng tâm đã chuyển sang chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong đó, cần lấy Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải lấy chuyển giao công nghệ làm trung tâm.

Thực tế cho thấy, thành công của Việt Nam trong thu hút FDI nhiều năm qua không hoàn toàn xuất phát từ sự vượt trội từ môi trường đầu tư, mà chủ yếu dựa vào lợi thế lao động dồi dào, chi phí nhân công thấp và các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế. 

Chính điều đó khiến nhiều doanh nghiệp nước ngoài lựa chọn Việt Nam như một cứ điểm sản xuất, gia công và lắp ráp hơn là một trung tâm nghiên cứu, sáng tạo hay phát triển công nghệ.

Hệ quả là sau nhiều năm mở cửa, mặc dù thu hút được lượng vốn đầu tư rất lớn, Việt Nam vẫn chưa tạo ra được những bước tiến đáng kể về làm chủ công nghệ. 

Nhiều ngành công nghiệp quan trọng vẫn phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, trong khi doanh nghiệp trong nước chủ yếu tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng thấp. Hiệu ứng lan tỏa về công nghệ từ khu vực FDI sang khu vực doanh nghiệp nội địa còn rất hạn chế.

Nghị quyết 10-NQ/TW đã nhìn thẳng vào thực tế đó khi xác định rõ yêu cầu thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, thân thiện với môi trường và có cam kết chuyển giao công nghệ. Đây là sự chuyển đổi từ tư duy "thu hút vốn bằng mọi giá" sang "thu hút những gì nền kinh tế thực sự cần".

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc thu hút FDI thành công không chỉ nằm ở số lượng dự án hay quy mô vốn đăng ký, mà quan trọng hơn là khả năng biến nguồn lực bên ngoài thành năng lực nội sinh của quốc gia. 

Trung Quốc là một ví dụ điển hình. Ngay từ khi mở cửa, quốc gia này đã đặc biệt coi trọng yêu cầu tiếp nhận, thích nghi và từng bước nội địa hóa công nghệ từ các doanh nghiệp nước ngoài. Thông qua hệ thống chính sách và pháp luật phù hợp, công nghệ được đưa vào không chỉ phục vụ sản xuất trước mắt mà còn trở thành nền tảng để doanh nghiệp trong nước học hỏi, cải tiến và sáng tạo.

Nhờ vậy, từ một quốc gia gia công, lắp ráp, Trung Quốc đã từng bước vươn lên làm chủ nhiều lĩnh vực công nghệ hiện đại như ô tô điện, robot công nghiệp, trí tuệ nhân tạo, công nghệ vũ trụ và điện toán lượng tử. Điều quan trọng không chỉ là tiếp nhận công nghệ, mà là tạo ra cơ chế để công nghệ đó trở thành động lực phát triển của nền kinh tế trong nước.

Tinh thần này cũng chính là điều mà Nghị quyết 10-NQ/TW hướng tới. Việt Nam không thể tiếp tục chỉ cạnh tranh bằng lao động giá rẻ, miễn giảm thuế hay ưu đãi đất đai kéo dài. 

Nếu chỉ chạy đua bằng việc "tự cắt giảm nguồn lực của mình" để thu hút đầu tư thì lợi ích mang lại sẽ không bền vững và khó tạo ra những đột phá về năng suất, khoa học công nghệ.

Có thể thấy, Nghị quyết 10-NQ/TW đã mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Mục tiêu không còn là "thu hút được bao nhiêu vốn", mà là "nguồn vốn đó mang lại công nghệ gì, tạo ra giá trị gia tăng gì và giúp doanh nghiệp Việt Nam trưởng thành đến đâu". Đó chính là nền tảng để xây dựng một nền kinh tế tự chủ, hiện đại và có sức cạnh tranh cao trong kỷ nguyên phát triển mới.

Muốn phát triển vốn đầu tư nước ngoài phải lấy chuyển giao công nghệ làm trung tâm - Ảnh 2.

Bắc Ninh hiện là một trong những trung tâm công nghiệp trọng điểm thu hút FDI hàng đầu Việt Nam. Ảnh: KTG

- Nghị quyết 10-NQ/TW đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả của dòng vốn FDI. Theo ông, đâu là những hạn chế căn bản trong mô hình thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam hiện nay?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Một trong những hạn chế lớn nhất của quá trình thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là sự phát triển thiếu đồng bộ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khu vực công nghiệp hỗ trợ. 

Trên thực tế, số lượng doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia vẫn còn rất ít, có thể nói chỉ đếm trên đầu ngón tay. 

Phần lớn các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào Việt Nam đều mang theo hệ thống nhà cung cấp, linh kiện, thiết bị và doanh nghiệp vệ tinh của chính họ. 

Việt Nam chủ yếu cung cấp lao động giá rẻ, đất đai và các ưu đãi về thuế, trong khi giá trị gia tăng và năng lực công nghệ vẫn nằm trong tay doanh nghiệp nước ngoài.

Nếu một địa phương như Bắc Ninh muốn phát triển bền vững từ dòng vốn FDI thì không thể chỉ dừng lại ở việc thu hút một nhà máy hay một tập đoàn lớn. Điều quan trọng hơn là phải hình thành được hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ đi kèm. 

Khi một doanh nghiệp điện tử, ô tô hay công nghệ cao đầu tư vào địa phương, cần có hàng trăm doanh nghiệp nội địa tham gia cung ứng linh kiện, dịch vụ kỹ thuật, logistics và các hoạt động hỗ trợ khác. 

Chỉ khi đó, hiệu ứng lan tỏa của FDI mới thực sự phát huy, giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Bên cạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, chuyển giao công nghệ phải được xem là yêu cầu cốt lõi trong chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn mới. 

Kinh nghiệm của Trung Quốc và nhiều quốc gia khác cho thấy việc tiếp nhận và nội địa hóa công nghệ là yếu tố quyết định để nâng cao năng lực sản xuất trong nước.

Thông qua các cơ chế pháp lý và chính sách phù hợp, Trung Quốc đã từng bước biến công nghệ du nhập từ bên ngoài thành nền tảng để phát triển doanh nghiệp nội địa, từ đó tạo ra những thương hiệu có sức cạnh tranh toàn cầu trong các lĩnh vực như ô tô điện, robot, trí tuệ nhân tạo hay công nghệ vũ trụ.

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, các địa phương không thể chỉ dựa vào ưu đãi về đất đai, thuế hay lao động giá rẻ. 

Thay vào đó, cần tập trung xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo cơ chế thúc đẩy chuyển giao công nghệ. 

Đó mới là nền tảng để thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, đồng thời giúp doanh nghiệp Việt Nam phát triển cùng với doanh nghiệp nước ngoài, thay vì chỉ đứng bên ngoài chuỗi giá trị toàn cầu như hiện nay.

- Thưa ông, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút nguồn vốn FDI chất lượng cao giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, Việt Nam cần làm gì để nâng cao sức hấp dẫn và đón đầu các dòng vốn đầu tư chiến lược?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Để vừa thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vừa thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, Việt Nam cần thay đổi căn bản tư duy cạnh tranh trong thu hút FDI. 

Các doanh nghiệp quốc tế suy cho cùng luôn đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu. Họ sẽ lựa chọn địa điểm đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất, chi phí hợp lý nhất và môi trường kinh doanh thuận lợi nhất. 

Vì vậy, muốn thu hút được dòng vốn chất lượng cao, chúng ta phải biết tạo ra cơ chế hài hòa lợi ích và xây dựng những lợi thế cạnh tranh bền vững hơn so với các quốc gia khác.

Nhiều năm qua, Việt Nam có lợi thế về lao động dồi dào và chi phí nhân công tương đối thấp. Đây là một yếu tố quan trọng giúp thu hút các tập đoàn quốc tế. 

Tuy nhiên, lợi thế này đang dần thu hẹp khi mức sống tăng lên và nhiều quốc gia khác cũng tham gia cạnh tranh quyết liệt để đón nhận các dòng vốn đầu tư mới. Nếu tiếp tục chỉ dựa vào lao động giá rẻ, ưu đãi về đất đai hay miễn, giảm thuế thì chúng ta rất khó tạo ra sự bứt phá trong giai đoạn phát triển mới.

Điều quan trọng hơn cả là phải xây dựng được một môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo cao. 

Muốn phát triển vốn đầu tư nước ngoài phải lấy chuyển giao công nghệ làm trung tâm - Ảnh 3.

Nhiều người cho rằng sự ổn định chính trị là lợi thế lớn của Việt Nam trong thu hút FDI. Điều đó hoàn toàn đúng, nhưng chỉ là một phần của vấn đề. 

Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia dù thay đổi chính phủ thường xuyên vẫn thu hút được lượng vốn đầu tư rất lớn bởi họ duy trì được sự ổn định của chính sách và tính minh bạch của thể chế. 

Nhà đầu tư quan tâm trước hết đến việc luật pháp có rõ ràng hay không, quyền lợi của họ có được bảo đảm hay không và môi trường kinh doanh có công bằng hay không, hơn là những yếu tố mang tính hình thức khác.

Bên cạnh thể chế, nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định khả năng thu hút FDI trong giai đoạn mới. Nếu trước đây các doanh nghiệp chủ yếu cần lao động phổ thông cho các ngành thâm dụng lao động thì hiện nay nhu cầu đã hoàn toàn khác. 

Những lĩnh vực như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, tự động hóa hay công nghệ sinh học đòi hỏi đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật và lao động có trình độ chuyên môn cao. 

Nếu không chuẩn bị được nguồn nhân lực phù hợp, chúng ta sẽ khó thu hút được các dự án công nghệ cao và càng khó tận dụng được hiệu ứng lan tỏa về tri thức và đổi mới sáng tạo.

Một vấn đề khác cần nhìn nhận thẳng thắn là cách thức ưu đãi đầu tư của nhiều địa phương vẫn mang nặng tư duy "tự cắt giảm nguồn lực của mình" để đổi lấy dự án. 

Việc giảm thuế quá mức, cho thuê đất giá thấp hoặc kéo dài thời gian ưu đãi có thể tạo ra lợi thế ngắn hạn nhưng không phải là chiến lược phát triển bền vững. 

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những nền kinh tế thành công thường cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, cơ sở hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao và khả năng liên kết doanh nghiệp, chứ không chỉ dựa vào các ưu đãi tài chính đơn thuần.

Vì vậy, tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW là hoàn toàn đúng đắn khi chuyển từ tư duy thu hút vốn bằng mọi giá sang thu hút có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ và năng lực lan tỏa làm tiêu chí cốt lõi. 

Chỉ khi xây dựng được môi trường đầu tư minh bạch, đội ngũ lao động trình độ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh mẽ, Việt Nam mới có thể vừa thu hút được dòng vốn quốc tế, vừa nâng cao năng lực khoa học - công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn.

Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/pgsts-nguyen-van-nam-phat-trien-von-dau-tu-nuoc-ngoai-phai-lay-chuyen-giao-cong-nghe-lam-trung-tam-179260701114436588.htm