Nuôi dưỡng ý tưởng "khởi nghiệp xã hội" từ quản trị hệ thống giáo dục quốc dân
Muốn có doanh nhân "khởi nghiệp xã hội" phải giáo dục trách nhiệm xã hội để thế hệ trẻ phát huy năng lực, phục vụ tận lực sự phát triển nghề đã chọn trên nền tảng đạo đức, lương tâm nghề nghiệp và tinh thần khởi nghiệp, điều hòa hợp lý và cân bằng lợi ích cá nhân với sự bền vững của môi trường và cộng đồng.
"KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI" LÀ GÌ? NGUỒN GỐC CỦA Ý TƯỞNG "KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI"
Khởi nghiệp xã hội (Social Entrepreneurship) hiện là một phong trào toàn cầu, đang thúc đẩy mạnh mẽ sự đổi mới để giải quyết nhiều vấn đề bức thiết trong xã hội: giảm lượng khí thải carbon, ngăn chặn sự tàn phá của bão lũ, tìm giải pháp tồn tại bền vững về tài chính, thực hiện tiêu dùng xanh.
Khái niệm "Khởi nghiệp xã hội" bắt đầu được phổ biến rộng rãi trong thập niên 1991-1999 nhờ từ các nghiên cứu về vốn xã hội (Social Capital) của nhà kinh tế học Bourdieu (1998) hay Putnam (1993) cùng nhiều nhà kinh tế học và xã hội khác.
Họ là những người xây dựng nền tảng lý thuyết về vai trò của những mối quan hệ, lòng tin và cộng đồng trong việc xây dựng và thúc đẩy các hoạt động nhằm tạo ra những giá trị chung cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Nhưng, cho đến nay, còn khá nhiều người vẫn chưa làm quen hoặc chưa hiểu được bản chất của khái niệm này.
Sự ra đời của khởi nghiệp xã hội gắn liền với những dự án tiên phong tiêu biểu của Ngân hàng Grameen của Muhammad Yunus ở Bangladesh.
Ngày nay, các nhà khoa học đã thừa nhận rằng, ông là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho các mô hình khởi nghiệp xã hội, đặc biệt là mô hình tín dụng vi mô để giải quyết vấn đề nghèo đói, kết hợp kinh doanh bền vững với những tác động xã hội rất tích cực.
Để hiểu sâu hơn nữa cội nguồn của tinh thần "khởi nghiệp xã hội", chúng ta cần dừng lại mấy phút để tìm đến xu hướng cải biến chủ nghĩa tư bản truyền thống sang chủ nghĩa tư bản có ý thức (Conscious Capitalism) mà nhà xã hội học Patricia Aburdene viết trong tác phẩm "Sự vươn lên của chủ nghĩa tư bản có ý thức".
Theo Patricia Aburdene, sự vươn lên ấy là một trong bảy xu hướng vĩ mô (Megatrend) 2010.
Conscious Capitalism về thực chất là một triết lý kinh doanh, cho rằng, các doanh nghiệp nên phục vụ tất cả các đối tượng hữu quan, bao gồm cả môi trường chứ không chỉ tập trung vào lợi nhuận thuần túy cho cổ đông.
Vào buổi bình minh của xã hội tri thức, chủ nghĩa tư bản truyền thống đã nhận thấy rằng, để phát triển tiếp tục khi xã hội công nghiệp đã lỗi thời, xã hội tri thức lên ngôi, chủ nghĩa tư bản truyền thống phải "cải biến hay là chết", mà sự cải biến ấy là hướng đến làm cho xã hội bền vững hơn.
Tháng 11/2003, tại Hội thảo "Doanh nghiệp vì trách nhiệm xã hội" (Business for Social Responsibility), Giám đốc điều hành Carly Fiorina đưa ra lý do vì sao Hewlett - Packard (Tập đoàn công nghệ thông tin đa quốc gia của Mỹ) lại là một công dân doanh nghiệp tốt.
Vì tập đoàn này đã góp phần để cải thiện một thế giới mà trong đó: Một nửa số dân sống với 2 USD/ngày; Một tỷ người không biết đọc, biết viết và một tỷ rưỡi người chưa bao giờ được uống một chén nước sạch.
"Trách nhiệm xã hội" của doanh nghiệp là điều đúng đắn cần làm. Với tình trạng này, nền kinh tế toàn cầu sẽ chắc chắn là không bền vững. Chủ nghĩa tư bản truyền thống sẽ thiếu sức thích ứng với xã hội tri thức nếu không được chữa lành những khuyết tật, và nó cần cải biến, đưa ra những sản phẩm mà trong đó chứa đựng chính sách ứng xử "cải thiện môi trường, sức khoẻ và lao động".
Theo sự khái quát của Patricia Aburdene, sự vươn lên của Chủ nghĩa tư bản có ý thức, về thực chất, là một cuộc cách mạng về ý thức đạo đức trong tinh thần kinh doanh.
Trong ngữ cảnh này, ý thức là sự hiện diện hay sự thức tỉnh trong nhận thức doanh nhân: Sự nghiệp kinh doanh cần đến ánh sáng tinh thần làm cho nhân tính trở nên sinh động.
Cuộc tìm kiếm đạo đức và ý nghĩa xã hội trong công việc kinh doanh trở thành một mục đích "linh thiêng" trong thế giới kinh doanh đầy áp lực. Việc làm đó đã truyền nhiệt huyết vào trái tim hàng triệu người, như một hiện thực nội tại, một tiêu chuẩn về xã hội, môi trường và đạo đức để doanh nghiệp vươn lên, biết từ chối lối kinh doanh hoàn toàn dựa vào sức lao động bị bóc lột.
Hiện nay, tại các nước tư bản chủ nghĩa, tinh thần khởi nghiệp xã hội chịu tác động mạnh mẽ của triết lý Conscious Kapitalism mà John Mackey, nhà đồng sáng lập Whole Foods Market cùng Raj Sisodia, giáo sư Marketing của trường đại học Bentley đã nỗ lực phổ biến rộng rãi.
ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN CÓ Ý THỨC ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI
1. Chủ nghĩa tư bản có ý thức luôn nhấn mạnh doanh nghiệp không chỉ tối đa hoá lợi nhuận cho cổ đông mà còn phải cân bằng lợi ích của các bên liên quan (nhân viên, khách hàng, cộng đồng, môi trường), gắn kinh doanh với mục đích cao cả (higher purpose) và đạo đức.
Trong khi đó, khởi nghiệp xã hội là các doanh nghiệp được thành lập với nội dung cốt lõi là giải quyết các vấn đề xã hội hoặc môi trường, sử dụng mô hình kinh doanh bền vững để tự duy trì hoạt động, khác với các tổ chức từ thiện chỉ phụ thuộc vào quyên góp.
2. Chủ nghĩa tư bản có ý thức là nền tảng lý thuyết hình thành nên các mô hình khởi nghiệp xã hội với những tác động cụ thể sau:
- Chủ nghĩa tư bản lan toả thông điệp: Kinh doanh và mục đích xã hội không đối lập nhau, phá vỡ quan niệm cổ truyền "doanh nghiệp chỉ để kiếm tiền".
Trước đây, hầu như mọi người đều nghĩ rằng, giải quyết vấn đề xã hội là trách nhiệm thuộc nhà nước hoặc tổ chức phi lợi nhuận.
Ngày nay, nhờ sự phổ biến của các nguyên tắc tư bản có ý thức, nhiều thế hệ nhà sáng lập trẻ tin rằng, có thể vừa vận hành doanh nghiệp sinh lời, vừa giải quyết nhiều vấn đề như bất bình đẳng giáo dục, ô nhiễm do rác thải nhựa hoặc khí thải nhà kính, đói nghèo...
Động lực này đã giúp nhiều nhà sáng lập, các Startups để góp phần cải thiện xã hội, tạo dựng môi trường lành mạnh.
- Chủ nghĩa tư bản nhà nước đã cung cấp khuôn khổ vận hành bền vững cho khởi nghiệp xã hội phát triển. Các nguyên tắc cốt lõi của Chủ nghĩa tư bản nhà nước đã giúp cho doanh nghiệp khởi nghiệp xã hội quản lý và làm vì lợi ích toàn diện của các bên, xây dựng văn hoá doanh nghiệp nhân văn, dắt dẫn doanh nghiệp có ý thức... Nhờ đó, các mô hình khởi nghiệp xã hội tránh được các rủi ro phổ biến.
Những quy định của tư bản có ý thức đã hướng dẫn nhà sáng lập khởi nghiệp xã hội xây dựng mô hình kinh doanh vừa bảo đảm lợi nhuận đủ để mở rộng quy mô tác động xã hội, vừa không phụ thuộc vào nguồn vốn quyên góp bất ổn định.
Nguyên tắc "tôn trọng tất cả các bên liên quan" đã giúp Startup xã hội xây dựng được lòng tin của cộng đồng, của nhà đầu tư và khách hàng, giữ chân đối tác và phát triển lâu dài.
- Chủ nghĩa tư bản xã hội thúc đẩy sự ra đời của làn sóng đầu tư có trách nhiệm (Impact investing), các quỹ đầu tư sẵn sàng góp vốn cho các doanh nghiệp vừa có lợi nhuận tài chính, vừa có tác động xã hội hiệu quả.
Trước đây nhiều mô hình khởi nghiệp xã hội rất khó tiếp cận vốn đầu tư mạo hiểm truyền thống vì các quỹ này chỉ ưu tiên lợi nhuận cao. Ngày nay, nhờ tư duy tư bản có ý thức, nhiều quỹ đầu tư tác động ra đời, cung cấp nguồn vốn và kết nối chuyên môn, giúp khởi nghiệp xã hội mở rộng quy mô nhanh hơn.
- Tư bản có ý thức định hướng khách hàng ưu tiên lựa chọn sản phẩm từ các doanh nghiệp có đạo đức, đóng góp nhiều cho xã hội. Điều này giúp các mô hình khởi nghiệp xã hội dễ dàng xây dựng một lượng khách hàng trung thành và đông đảo, khác biệt với các doanh nghiệp truyền thống chỉ tập trung vào giá thành và lợi nhuận.
CÁC QUỐC GIA ĐI TIÊN PHONG TRONG XÂY DỰNG CÁC MÔ HÌNH KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI
1. Những quốc gia hiện được coi là đang tiên phong trong phát triển các mô hình khởi nghiệp xã hội thường quan tâm 3 yếu tố mang tính điều kiện: Có hệ sinh thái hỗ trợ tốt; Có chính sách khuyến khích những nhà sáng lập; Đã tập trung xây dựng được một số mô hình rất thành công.
2. Một số quốc gia tiêu biểu:
Vương quốc Anh: Là quốc gia được thế giới thừa nhận là nước đi tiên phong về khởi nghiệp xã hội với 3 đặc điểm: Có số lượng đông đảo các mô hình khởi nghiệp xã hội. Có Luật công nhận doanh nghiệp xã hội và mô hình Community Interest Company (CIC) (Công ty xã hội vì cộng đồng). Chính phủ Anh, các trường đại học và các quỹ đầu tư tích cực ủng hộ.
Hoa Kỳ: Là cái nôi của những sáng kiến về khởi nghiệp xã hội, có nhiều quỹ đầu tư tác động (Impact Investing), vườn ươm và trường đại học hỗ trợ và là nơi khởi nguồn Ashoka - mạng lưới doanh nhân xã hội lớn nhất thế giới.
Ấn Độ: Nổi bật với những mô hình giải quyết nghèo đói, giáo dục, y tế và tài chính vi mô. Xuất hiện nhiều doanh nhân xã hội có tầm ảnh hưởng quốc tế.
Đan Mạch: Là quốc gia đi đầu về đổi mới và sáng tạo xã hội; Kết hợp giữa chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng.
Hàn Quốc: Có chính sách quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp xã hội. Đầu tư mạnh mẽ vào đào tạo, tài chính và tạo việc làm cho các nhóm yếu thế.
Canada: Phát triển mạnh các hợp tác xã và doanh nghiệp xã hội và có nhiều chương trình hỗ trợ khởi nghiệp tạo tác động xã hội.
Hà Lan: Nổi tiếng với các mô hình kinh doanh bền vững, kinh tế tuần hoàn và đổi mới xã hội. Có nhiều quỹ đầu tư cho các doanh nghiệp tạo tác động xã hội.
Ngoài các quốc gia trên, có thể kể đến Thụy Điển, Singapore, Phần Lan, Úc..., cũng là những quốc gia đang thúc đẩy việc phát triển các doanh nghiệp xã hội.
DOANH NHÂN KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI
1. Doanh nhân khởi nghiệp xã hội (Social Entrepreneur) là người áp dụng tư duy kinh doanh và phương pháp sáng tạo để giải quyết các vấn đề cấp bách của cộng đồng hoặc môi trường. Mục tiêu cốt lõi của họ là tạo ra những tác động tích cực và bền vững, đặt mục tiêu phục vụ xã hội lên trên mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông.
Đặc điểm của những doanh nhân này tập trung vào những phẩm chất: Muốn xây dựng một tổ chức phi lợi nhuận có tính hiệu quả của thị trường thương mại; Dùng chính hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ để tự trang trải tài chính và giải quyết vấn đề xã hội.
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam, những doanh nhân này phải sử dụng ít nhất 51% lợi nhuận để đầu tư vào các mục tiêu xã hội hoặc môi trường có vấn đề.
2. So sánh Nhà khởi nghiệp xã hội và Nhà từ thiện.
Tiêu chí | Nhà khởi nghiệp xã hội (Social Entrepreneur) | Nhà từ thiện (Philanthropist/ Humanitarian) |
Mục tiêu lõi cốt | Giải quyết tận gốc vấn đề xã hội thông qua các giải pháp kinh doanh bền vững, tạo ra sự thay đổi hệ thống. | Cung cấp viện trợ tài chính hoặc vật chất để hỗ trợ, xoa dịu hoặc giải quyết các nhu cầu cấp bách. |
Mô hình tài chính | Tạo ra doanh thu và lợi nhuận từ việc bán sản phẩm/ dịch vụ, thường không dựa vào tiền quyên góp. | Phụ thuộc vào tiền tài trợ, quyên góp hoặc dựa vào của cải cá nhân để duy trì hoạt động. |
Khả năng tự chủ | Tự trang trải chi phí và phát triển quy mô nhờ lợi nhuận tái đầu tư. | Thường xuyên cần gây quỹ hoặc bổ sung nguồn lực mới để tiếp tục hoạt động. |
Cách tiếp cận | Đổi mới sáng tạo, áp dụng tư duy kinh doanh vào giải quyết vấn đề cộng đồng. | Lòng nhân ái, sự hảo tâm và mong muốn giúp đỡ trực tiếp những người có hoàn cảnh khó khăn. |
Trên đây là sự so sánh 2 mô hình nhân cách với vai trò của họ trong sự hỗ trợ, thúc đẩy giải quyết những khó khăn. Mô hình nhân cách nào cũng đáng quý, tuy nhiên, xét về lối suy nghĩ, giữa họ có những khác biệt lớn.
Nhà khởi nghiệp xã hội có một lối tư duy xuyên suốt hoạt động kinh doanh của họ được gọi là Tư duy doanh nhân (Entrepreneurial Mindset) - đó là hệ thống nhận thức hướng tới việc nhìn nhận vấn đề thành cơ hội, chủ động tạo ra giá trị bền vững và sẵn sàng chấp nhận thách thức. Thay vì thụ động làm theo lối mòn, người có tư duy doanh nhân luôn tìm đến các phương án đổi mới trong công việc, không ngại rủi ro và dám chịu trách nhiệm trước quyết định.
Nhà từ thiện thì luôn thể hiện tư duy nhân đạo (Humane Thinking/ Humanitarian Mindset) hay còn gọi là tinh thần nhân đạo. Đó là cách nhìn nhận, suy nghĩ và hành động đề cao giá trị, phẩm giá, quyền lợi và hạnh phúc con người. Họ luôn hướng tới lòng trắc ẩn, vị tha, sự đồng cảm, chống lại những bất công, sẵn sàng giúp những người yếu thế hoặc lâm vào cảnh khó khăn.
SỰ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1. Trong Luật Doanh nghiệp (2014) của Việt Nam, doanh nghiệp xã hội là loại doanh nghiệp được đăng ký hoạt động như một loại hình doanh nghiệp hợp pháp. Chủ trương này thể hiện sự chuyển nhận thức từ mô hình hoạt động tự phát thành chủ thể kinh tế chính thức, có vai trò trong phát triển xã hội.
Trước đó, những tổ chức hoạt động mang tính chất doanh nghiệp xã hội như Mai Handicrafts, KOTO chỉ hoạt động dưới dạng công ty thấp cấp hoặc tổ chức phi chính phủ, chưa có khung pháp lý riêng để hỗ trợ.
2. Hiện nay, Luật Doanh nghiệp (2020) đã quy định về doanh nghiệp xã hội được giữ vững và chi tiết hoá với 3 tiêu chí cốt lõi để công nhận:
- Là doanh nghiệp đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Mục tiêu chính là giải quyết những vấn đề xã hội, môi trường và lợi ích cộng đồng.
- Phải sử dụng ít nhất là 51% tổng lợi nhuận sau thuế hàng năm để tái đầu tư thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trường, cộng đồng đã đăng ký.
3. Nghị định 47/2021/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, quy định chi tiết về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp xã hội, cũng như thủ tục chuyển đổi các tổ chức hoạt động tự phát trước đây thành doanh nghiệp xã hội, được tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
4. Nhà nước xác định doanh nghiệp xã hội là lực lượng quan trọng chia sẻ gánh nặng với khu vực công trong việc cung cấp phúc lợi xã hội; ban hành hàng loạt ưu đãi và cơ chế đặc thù, khác biệt so với doanh nghiệp tư nhân thông thường.
5. Thực tiễn cho thấy Việt Nam hiện đã có gần 200 tổ chức đáp ứng đầy đủ tiêu chí doanh nghiệp xã hội và hơn 25.000 tổ chức có tiềm năng chuyển đổi sang mô hình này.
Đảng và Nhà nước đang tiếp tục hoàn thiện thể chế để khai thác tối đa tiềm năng của mô hình doanh nghiệp xã hội, tập trung vào 3 hướng chính:
Doanh nghiệp xã hội không phải là tổ chức từ thiện, mà là mô hình kinh doanh bền vững, vừa tạo ra lợi ích kinh tế, vừa giải quyết gốc rễ các vấn đề xã hội như thất nghiệp, nghèo đói, thất học, biến đổi khí hậu.
Nhà nước tiếp tục có chính sách để các doanh nghiệp xã hội dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực.
Tạo điều kiện kết nối doanh nghiệp xã hội với các nhà đầu tư ảnh hưởng (Impact Investor) trong và ngoài nước nhằm mở rộng quy mô hoạt động.
NHỮNG NĂNG LỰC CỐT LÕI VÀ PHẨM CHẤT MONG MUỐN Ở DOANH NHÂN KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI
Dựa trên các chương trình hỗ trợ và thực tiễn xây dựng các doanh nghiệp xã hội, ta có thể rút ra một số năng lực cốt lõi và phẩm chất kinh doanh chung nhất của một doanh nhân khởi nghiệp xã hội như sau:
1. Tư duy và nền tảng kiến thức
Tư duy khởi nghiệp bền vững: Doanh nhân khởi nghiệp xã hội có sự cân bằng giữa mục tiêu kinh doanh với những giá trị tác động xã hội hoặc môi trường.
Kỹ năng nhận diện và giải quyết vấn đề: Đó là khả năng phát hiện các nguyên nhân gốc rễ của những vấn đề xã hội, từ đó thiết kế các giải pháp bền vững và có tính hệ thống thay vì chỉ xử lý bề nổi.
2. Năng lực vận hành và công nghệ
Kỹ năng xây dựng mô hình kinh doanh, lập kế hoạch quản trị tài chính, quản lý tổ chức và nhân sự.
Kỹ năng chuyên sâu về chuyển đổi số, sử dụng các công nghệ mới để tối ưu hoá quy trình sản xuất, bán hàng và truyền thông.
Kỹ năng khởi nghiệp thực tế: Có các kiến thức về kỹ năng số (như Nocode), xây dựng đội ngũ, kỹ năng tìm kiếm đồng sáng lập, biết thuyết trình hiệu quả dự án trước nhà đầu tư.
3. Kết nối và ươm tạo thực tế
Kỹ năng xây dựng hệ sinh thái thông qua các chương trình ươm tạo, kết nối với nhà đầu tư và các tổ chức phi chính phủ (NGO) cùng các chuyên gia đã có nhiều trải nghiệm về lĩnh vực khởi nghiệp mà nhà sáng lập định hướng.
Có kế hoạch học tập suốt đời, tận dụng các hội thảo, tọa đàm với các doanh nhân thành đạt trong hành trình phát triển kinh doanh.
Tạo môi trường để gặp gỡ, trao đổi với các doanh nhân, xây dựng nên một cộng đồng doanh nhân học tập và chia sẻ kiến thức, kỹ năng cần thiết.
NHỮNG DOANH NGHIỆP XÃ HỘI TIÊU BIỂU Ở VIỆT NAM
1. KOTO
Mục tiêu: Hỗ trợ người khuyết tật trong giáo dục và đào tạo nghề cùng cơ hội tìm việc làm, hòa nhập xã hội.
Lĩnh vực hoạt động: Giáo dục, đào tạo người khuyết tật.
Đối tượng hưởng lợi: Người khuyết tật và gia đình họ.
Mô hình hoạt động: Doanh nghiệp xã hội, sử dụng nguồn thu từ kinh doanh để tài trợ hoạt động đào tạo nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật.
Đặc điểm nổi bật: Áp dụng mô hình doanh nghiệp xã hội để hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng.
2. Vinamilk
Mục tiêu: Trở thành công ty sữa hàng đầu thế giới, phát triển bền vững, sử dụng năng lượng xanh bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất và kinh doanh sữa, các sản phẩm từ sữa, thiết kế máy móc dùng trong ngành sữa.
Đối tượng hưởng lợi: Người tiêu dùng, các cổ đông và người lao động trong cộng đồng được hỗ trợ từ các chương trình hỗ trợ xã hội của công ty.
Đặc điểm nổi bật: Là thương hiệu sữa có giá trị thứ 6 toàn cầu với tiềm năng vào loại nhất thế giới.
3. Trường Hoa Sữa
Mục tiêu: Đào tạo nghề và cung cấp cơ hội việc làm cho thanh niên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong nước.
Lĩnh vực hoạt động: Đào tạo nghề, hỗ trợ cơ hội tìm việc làm cho học viên.
Đối tượng hưởng lợi: Thanh niên và các doanh nghiệp đang tìm kiếm và tuyển chọn nhân lực có tay nghề.
Đặc điểm nổi bật: Gắn đào tạo nghề với thực tế việc làm ở địa phương, có mạng lưới đối tác trong và ngoài nước.
4. Mai Vietnamese Handicrafts
Mục tiêu: Sản xuất và kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ, xây dựng chương trình hỗ trợ những người đang gặp khó khăn.
Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất, kinh doanh, phân phối các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, qua đó có chương trình hỗ trợ xã hội.
Đối tượng hưởng lợi: Một số nghệ nhân có khó khăn, những người nghèo cần được giúp đỡ để có kỹ năng làm hàng thủ công mỹ nghệ, mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương.
Đặc điểm nổi bật: Mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm trong và ngoài nước, lồng một số chương trình hỗ trợ xã hội, tập trung vào người nghèo, nhóm yếu thế.
Trên đây chỉ là một vài doanh nghiệp xã hội được tôn vinh. Bên cạnh còn nhiều doanh nghiệp xã hội khác mà ta có thể tham khảo, học hỏi như Help Corporation, Trung tâm nghị lực sống, Trung tâm nghiên cứu ngôn ngữ ký hiệu, Doanh nghiệp xã hội nông nghiệp hữu cơ, Doanh nghiệp xã hội vĩ mô, Doanh nghiệp xã hội du lịch sinh thái, Doanh nghiệp xã hội bảo vệ môi trường...
NHỮNG DOANH NHÂN XÃ HỘI VIỆT NAM ĐÃ ĐƯỢC VINH DANH
Trong phong trào phát triển các doanh nghiệp xã hội, mấy năm gần đây đã xuất hiện nhiều gương mặt doanh nhân xã hội xuất sắc.
Trong lễ vinh danh những doanh nhân xã hội tiêu biểu năm 2019, đã có 100 doanh nhân được trao tặng Cúp Thánh Gióng.
Năm 2022, đã có 86 doanh nhân xã hội trẻ tuổi và 60 doanh nhân xã hội có thành tích nổi trội đã được nhận Giải thưởng Sao Đỏ.
Hiện nay, trong cả nước đã có hàng vạn doanh nhân xã hội thành đạt, hàng vạn người được các Vườn ươm tài năng hỗ trợ khởi nghiệp xã hội. Xây dựng các doanh nghiệp xã hội đang là một xu hướng tích cực và tràn đầy tiềm năng phát triển bền vững.
Gần đây đã xuất hiện những gương mặt doanh nhân xã hội trẻ xuất sắc như:
Nguyễn Thùy Chi: Phó Giám đốc công ty TNHH Chạm vào Xanh (2025) - người kiến tạo sinh kế cho nhiều người yếu thế.
Lưu Thị Thanh Mẫu: CEO Phúc Khang Corporation, giải thưởng Sao Đỏ (2019) với thành tích xây dựng cộng đồng xanh nổi bật.
Lê Hùng Nguyễn: Nhà sáng lập PISE, tổ chức Projects Incubation for Social Entrepreneurs, hỗ trợ và ươm mầm cho nhiều Dự án khởi nghiệp.
Nguyễn Thị Ngọc Huyền: CEO Medlink Asia, kết nối các công ty dược phẩm, nhà thuốc, bệnh nhân nhằm minh bạch hóa nguồn gốc thuốc và tối ưu hóa chi phí y tế cho người dân.
Nguyễn Thị Thu Hà: CEO MindX Education: Hệ thống giáo dục - đào tạo về công nghệ, cung cấp các khóa học từ lập trình cơ bản đến nâng cao, giải quyết nhu cầu việc làm và nâng cao kỹ năng số cho thế hệ trẻ.
Lê Yên Thanh: CEO Phenikaa MaaS khởi nghiệp thành công với bản đồ giao thông thông minh BusMap, góp phần thúc đẩy giao thông thân thiện với môi trường và thuận lợi cho cộng đồng.
Trần Trung Hiếu: CEO TopCV xây dựng nền tảng tuyển dụng và kết nối việc làm, hỗ trợ các bạn trẻ và người lao động cải thiện kỹ năng, tạo hồ sơ chuyên nghiệp để tìm kiếm cơ hội phát triển bền vững.
MẤY LỜI BÀN VỀ KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI TỪ CHỖ ĐỨNG CỦA NGƯỜI LÀM KHOA HỌC GIÁO DỤC
1. Tại Nghị quyết của Đại hội XIV của Đảng (1/2026), tuy không có một mục riêng biệt về doanh nghiệp xã hội, nhưng có mấy ý sau đây đã nói rõ quan điểm của Đảng về mô hình này:
Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù Đảng không nói trực tiếp về doanh nghiệp xã hội, nhưng lại chỉ ra rằng, phải mở ra không gian cho các mô hình doanh nghiệp sáng tạo, có đóng góp tích cực cho xã hội.
Cộng đồng doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, "đầu tàu trong phát triển kinh tế - xã hội, bao hàm cả doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu kép: Vừa kinh doanh, vừa đóng góp cho xã hội.
Trong kinh doanh, phải đổi mới tư duy phát triển (Growth Mindset), gắn kinh tế với xã hội và môi trường, "không đánh đổi môi trường để tăng trưởng kinh tế", đặt con người vào vị trí trung tâm.
Mọi doanh nghiệp đều được khuyến khích tăng cường trách nhiệm xã hội và mô hình doanh nghiệp xã hội lại càng phải làm thật tốt trách nhiệm này.
Tất cả các doanh nghiệp xã hội đều phải đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng giải quyết những vấn đề xã hội và môi trường.
2. Với vị trí và vai trò quan trọng của doanh nghiệp xã hội như Văn kiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra, trong công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông, dạy nghề và đại học, cán bộ hướng nghiệp cần chú ý phát hiện những học sinh, sinh viên thể hiện những đặc điểm nhân cách sau đây để tư vấn cho họ phấn đấu trở thành doanh nhân xã hội.
Những đặc điểm đó là:
- Thể hiện khả năng tư duy sáng tạo và khả năng tìm ra các giải pháp độc đáo cho các vấn đề xã hội đang tồn tại thay vì chỉ theo mô hình kinh doanh đã có sẵn.
- Có tinh thần đồng cảm và trách nhiệm xã hội, hiểu rõ nhu cầu của cộng đồng và muốn cải thiện đời sống mọi người, không chỉ thuần túy hướng tới lợi nhuận cá nhân.
- Tính kiên trì và khả năng chịu thất bại. Dự án kinh doanh xã hội thường mất nhiều thời gian để có hiệu quả. Thanh niên nào thiếu ý chí vượt khó thì khó trở thành doanh nhân xã hội.
- Có kỹ năng giao tiếp và hợp tác, xây dựng được mối quan hệ với thị trường mục tiêu và cộng đồng cùng các đối tác cần thiết.
- Có tính minh bạch và đạo đức kinh doanh, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức, minh bạch trong hoạt động kinh doanh.
3. Phát huy trách nhiệm xã hội trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp. Trong công tác hướng nghiệp, đối với bất kỳ nghề nghiệp nào có trong Chương trình định hướng lựa chọn của học sinh, sinh viên, ta cần làm những việc sau đây:
- Giáo dục đạo đức nghề nghiệp (Professional Ethics) để thế hệ trẻ nhận thức đầy đủ và làm theo những nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử quy định hành vi cá nhân trong toàn bộ quá trình hành nghề.
- Giáo dục lương tâm nghề nghiệp (Professional Conscience) để thế hệ trẻ tự ý thức, tự phán xét và trách nhiệm đạo đức đối với công việc.
- Giáo dục tinh thần khởi nghiệp (Entrepreneurial Spirit) để thế hệ trẻ rèn luyện tư duy quản lý, khả năng đổi mới, sự dấn thân theo đuổi cơ hội phát triển sự nghiệp, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không ngại đối đầu với khó khăn và không bỏ cuộc.
- Giáo dục trách nhiệm xã hội (Corporate Social Responsibility) để thế hệ trẻ phát huy mạnh mẽ những năng lực của mình, phục vụ tận lực sự phát triển nghề đã chọn trên nền tảng đạo đức nghề nghiệp, lương tâm nghề nghiệp và tinh thần khởi nghiệp, luôn lấy con người làm trung tâm, điều hòa hợp lý và cân bằng lợi ích cá nhân với sự bền vững của môi trường và cộng đồng.
Trong giai đoạn 2026-2031 và xa hơn nữa, nền giáo dục phải thực sự chuyển mình theo xu thế số hoá và xanh hoá, đào tạo các thế hệ Z, Alpha và Beta thành những công dân số và công dân toàn cầu. Những thế hệ này phải biết nói "không" với các hành vi và lối suy nghĩ sau:
Trong làm ăn kinh doanh, chỉ tập trung vào mục tiêu lợi nhuận tối đa cho cá nhân, vô trách nhiệm với sản phẩm mình làm ra như làm hàng giả, hàng nhái thương hiệu, các loại hàng thuộc loại thứ phẩm, phế phẩm, độc hại; bất chấp pháp luật và đạo lý.
Thực hiện lối cạnh tranh thiếu lành mạnh, thiếu tinh thần hợp tác, chia sẻ (theo kiểu chủ nghĩa tư bản sơ khai, chứ không phải chủ nghĩa tư bản có ý thức); cần chỉ ra cho thế hệ trẻ những lối làm ăn "chụp giật" như kiểu biên soạn và phát hành sách giáo khoa kém chất lượng, tự đặt giá cả sách giáo khoa, thu học phí và định ra đủ các loại phí giáo dục rất vô lý, tổ chức các bữa ăn học đường không bảo đảm vệ sinh, tổ chức dạy thêm hoặc luyện thi để tăng thu nhập... Những tiêu cực này hàng ngày trực tiếp gây ấn tượng cho học sinh, sinh viên.
Cần quản trị hệ thống giáo dục một cách minh bạch, sao cho việc phổ cập giáo dục Trung học phổ thông theo chủ trương của Trung ương Đảng và Nhà nước được chấp hành nghiêm minh, không một đứa trẻ nào bị bỏ quên, không một học sinh, sinh viên nào cảm thấy mình là kẻ bị thất bại học đường.
Theo hiểu biết có thể còn phiến diện hoặc chưa thấu đáo, chúng tôi cho rằng, từ nay, mọi loại hình trường (công lập, ngoài công lập), mọi trung tâm đào tạo đa dạng, đa lĩnh vực nghề nghiệp hiện có đều cần thực hiện các hoạt động mang trách nhiệm xã hội.
Những trách nhiệm đó được chi phối bởi Tư duy định hướng sứ mệnh (Purpose driven Mindset/Mission driven Mindset), từ bỏ ngay lối tư duy tối đa hoá lợi nhuận (Profit-maximizing Mindset) đơn thuần. Đó là tư duy có ý thức xã hội với những đặc điểm sau:
- Mục tiêu cốt lõi: Kết hợp những lợi nhuận đã tạo ra với việc mang lại giá trị cho tất cả các đối tượng: cán bộ, giáo viên, phụ huynh học sinh, cộng đồng địa phương, môi trường thiên nhiên.
- Quan hệ lao động: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong trường là tài sản quý, cần được đào tạo, bồi dưỡng liên tục và có môi trường làm việc tốt để họ tạo nên một trường học như một hệ sinh thái giáo dục công bằng.
- Quan hệ với xã hội và môi trường: Hoạt động của nhà trường, của cơ sở đào tạo phải tuân thủ các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, tham gia công tác từ thiện và nhân đạo chí ít trong phạm vi địa lý nơi nhà trường đóng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng.
- Thể chế: Nhà trường hoặc cơ sở đào tạo cam kết sự minh bạch, trách nhiệm xã hội của mình, xây dựng cộng đồng công bằng và văn minh.
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/nuoi-duong-y-tuong-khoi-nghiep-xa-hoi-tu-quan-tri-he-thong-giao-duc-quoc-dan-17926071318430167.htm

