Mục tiêu vì hạnh phúc nhân dân và vai trò của Hội Khuyến học Việt Nam
Việc thực hiện các mô hình học tập ở địa phương trong thời gian từ 2010 đến nay có sự đóng góp rất lớn của Hội Khuyến học các cấp và hơn 28 triệu hội viên trong sự nghiệp trồng người: "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài".

Một xã hội hạnh phúc là mọi công dân đều được thoả mãn quyền học tập, trưởng thành. Minh hoạ: Anh Le/free-pexels
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1/2026) diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những định hướng, mục tiêu lớn như tăng trưởng phải cao hơn giai đoạn trước, cải cách phải sâu hơn, bộ máy hoạt động phải hiệu quả hơn.
Thông điệp được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Đại hội mang tính lựa chọn chiến lược mà Đảng đã khẳng định từ đầu: "Dân là gốc" - thước đo cao nhất của mọi quyết sách.
Niềm tin của nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói, mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả hoạt động của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp.
Trong thực thi công vụ, với mỗi cán bộ, đảng viên trên cương vị của mình, cán bộ phải tự hỏi: Việc này có lợi gì cho dân? Có làm cho dân tin hơn không? Có làm cho cuộc sống của nhân dân tốt đẹp hơn không? Có làm cho đất nước giàu mạnh hơn không?
Nếu câu trả lời chưa rõ, bản thân cán bộ, đảng viên phải tiếp tục hoàn thiện, định hướng đúng, triển khai hiệu quả; bởi mọi quyết sách chỉ có ý nghĩa khi được nhân dân đồng tình, ủng hộ và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân.
Đại hội XIV không chỉ bàn con đường phát triển cho một nhiệm kỳ, mà đang đặt lại chuẩn mực cho toàn bộ hoạt động của xã hội, và trong công tác chỉ đạo, lãnh đạo: mọi quyền lực và chính sách đều phải được đo bằng niềm tin, sự đồng thuận và phải đem lại hạnh phúc cho nhân dân.
I. Về chỉ số hạnh phúc của nhân dân
Sự hài lòng hay hạnh phúc của nhân dân được biểu hiện như thế nào trong giai đoạn hiện nay?
Có lẽ đối với từng người dân, hạnh phúc đơn giản là sự thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu, có sức khỏe, gia đình hòa hợp và môi trường sống an toàn, trong lành. Đó là trạng thái mãn nguyện khi được tôn trọng, yêu thương, có công việc ổn định và cảm thấy cuộc sống ý nghĩa, bình yên. Xin nêu một vài khía cạnh cụ thể về hạnh phúc đối với người dân:
- Về yếu tố vật chất: Đảm bảo nhu cầu cơ bản như có nhà ở ổn định, y tế có chất lượng, giáo dục tốt và thu nhập đủ đáp ứng cuộc sống.
- Về yếu tố tinh thần: đảm bảo như gia đình hòa hợp, tình cảm cộng đồng bền chặt, mọi người được tôn trọng, chia sẻ tình thương và niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp.
- Về sức khỏe tâm thần: Có sức khỏe tốt, môi trường sống trong lành, an toàn và an ninh.
- Về cơ hội phát triển: Có công việc ổn định, cơ hội thăng tiến, học hỏi và thể hiện bản thân.
- Về sự bình yên trong tâm hồn: Bằng lòng với những gì mình có, biết trân trọng hiện tại, giảm bớt áp lực và đối diện tích cực với khó khăn.
- Về một cuộc sống có ích: Cảm giác được đóng góp sức lực, làm được những việc có ý nghĩa cho bản thân, gia đình và xã hội.
Tóm lại, hạnh phúc của mỗi người là một khái niệm mang tính chủ quan, phụ thuộc vào mong muốn và giá trị riêng của họ; bên cạnh đó là yếu tố tác động khách quan, do xã hội mang lại cho mỗi người mà chúng ta hay gọi là an sinh xã hội cũng được quan tâm, đảm bảo; nhưng cốt lõi của hạnh phúc vẫn là cảm giác hài lòng, bình yên, tin yêu tổ quốc mình và thỏa mãn với cuộc sống hiện tại.
Quan niệm về hạnh phúc của người Việt Nam thường thiên nhiều hơn về khía cạnh thỏa mãn nhu cầu cá nhân gắn với đời sống gia đình, cộng đồng, quan hệ xã hội. Có ba bộ phận tạo nên hạnh phúc là điều kiện kinh tế vật chất, quan hệ gia đình, xã hội và đời sống tinh thần.
Ở đây xuất hiện yếu tố gia đình. Rõ ràng, do văn hóa truyền thống để lại, gia đình với mỗi người Việt Nam là đặc biệt quan trọng. Khi nhu cầu mỗi cá nhân được thỏa mãn trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng, xã hội thì họ sẽ cảm thấy hạnh phúc.
Như vậy, ta đã có được mối liên hệ khá đặc biệt: Hạnh phúc của mỗi cá nhân cần được đánh giá gắn liền với gia đình, cộng đồng. Hãy xem xét khía cạnh "gia đình" này; một gia đình được coi là hạnh phúc khi nào?
II. Về chỉ số "Gia đình hạnh phúc"
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ chỉ số "Gia đình hạnh phúc" là "tập hợp các tiêu chí nhằm đo lường và đánh giá về mức độ hài lòng của các thành viên gia đình đối với các yếu tố nền tảng như: sự gắn kết trong quan hệ gia đình, điều kiện vật chất, tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần, môi trường sống và vị thế của gia đình với dòng họ, cộng đồng, xã hội".
Các tiêu chí trong Bộ chỉ số được lượng hóa thông qua thang điểm, có trọng số cụ thể và có thể áp dụng cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau. (Quyết định số 2514/QĐ-BVHTTDL, năm 2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phê duyệt và tổ chức thí điểm Bộ chỉ số gia đình hạnh phúc).
Bộ chỉ số gia đình hạnh phúc được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lựa chọn để thí điểm là 5 tiêu chí chính, các tiêu chí này dùng để đo lường, đánh giá mức độ hài lòng của các thành viên trong gia đình, cụ thể như sau:
1. Sự gắn kết, bền chặt trong các mối quan hệ gia đình
Đánh giá mức độ gắn bó tình cảm, sự thấu hiểu, tôn trọng, chia sẻ và hỗ trợ giữa các thành viên; các yếu tố về an toàn, bình đẳng, yêu thương, thủy chung, hiếu thảo và không có hành vi bạo lực gia đình.
2. Sự thịnh vượng về vật chất của gia đình
Đánh giá điều kiện vật chất, khả năng tạo lập và duy trì nguồn thu nhập ổn định, mức sống và khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản của thành viên gia đình, bao gồm cả khả năng tài chính để ứng phó với những tình huống rủi ro trong đời sống gia đình, xã hội.
3. Sự khỏe mạnh về thể chất và tinh thần của các thành viên gia đình
Đánh giá sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, mức độ hài lòng đối với chất lượng sống cũng như sự cân bằng giữa công việc và đời sống gia đình.
4. Môi trường sống của gia đình
Đánh giá mức độ an toàn, sạch sẽ, thân thiện của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, về tính tiện ích và chất lượng dịch vụ công cộng xung quanh nơi gia đình cư trú.
5. Vị thế của gia đình
Đánh giá uy tín, hình ảnh và mức độ đóng góp của gia đình đối với dòng họ, cộng đồng dân cư và xã hội thể hiện qua sự tham gia các hoạt động cộng đồng, sự gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của gia đình.
III. Vai trò của Hội Khuyến học Việt Nam
Trong lĩnh vực giáo dục và khuyến học: Rõ ràng "người học" (cả trong và ngoài nhà trường) luôn là trung tâm. Mọi quyết sách, chiến lược, chương trình, kế hoạch giáo dục đều phải xoay quanh "người học", phục vụ người học và thỏa mãn nhu cầu về tri thức của nhân dân.
Như vậy, kết quả học tập của người dân nhằm hình thành những "công dân học tập" đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước chính là thước đo của "lòng dân" đối với giáo dục, khuyến học. Ở đây, ta lại nhận thấy quyết sách "dân là gốc" ứng nghiệm: một nền giáo dục vì dân, của dân, do dân. Đây cũng chính là yếu tố "quốc sách hàng đầu" của giáo dục mà Hiến pháp đã khẳng định.
Học tập của nhân dân, thông qua giáo dục và khuyến học, xây dựng xã hội học tập, đóng vai trò quốc sách hàng đầu, quyết định trực tiếp đến tương lai, sự phát triển bền vững và vị thế hùng cường của dân tộc. Nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng cốt lõi để đổi mới, sáng tạo, hội nhập quốc tế và xây dựng đất nước hùng cường.
Xuất phát từ các quan điểm, quy định ở trên, ta có thể khu trú chủ đề hạnh phúc vào hai nhóm đối tượng với chủ thể là người dân và gia đình, dòng họ. Rất phù hợp ở đây là Hội Khuyến học Việt Nam được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ từ rất sớm: Xây dựng mô hình "Gia đình, dòng họ học tập" (từ năm 2005) và "Công dân học tập" (năm 2021).
Có thể nói, xây dựng các mô hình Công dân và Gia đình, Dòng họ học tập chính là xây dựng các tiêu chí đánh giá sao cho mọi thành viên trong đó đều có cơ hội phát triển bản thân, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, lấy việc bồi đắp tri thức làm mục tiêu chính, đẩy mạnh văn hóa học tập suốt đời trong cộng đồng. Nhiệm vụ này kéo dài theo năm tháng, từ những năm 2005 đến 2020 và cho giai đoạn tiếp theo đến năm 2030.
Vậy Hội Khuyến học Việt Nam đã làm gì để xây dựng các mô hình trên, tức là làm gì để góp phần mang lại hạnh phúc cho người dân và gia đình, dòng họ cũng như cộng đồng dân cư nơi họ sinh sống?
Thực hiện Quyết định 281/QĐ-TTg (2014), Quyết định 387/QĐ-TTg và Quyết định 677/QĐ-TTg (2022) của Thủ tướng Chính phủ, Hội Khuyến học Việt Nam đã xây dựng Kế hoạch triển khai và xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá, xây dựng mô hình "Gia đình, dòng họ, cộng đồng... học tập" và "Công dân học tập" (theo các Quyết định 242/QĐ-KHVN và 324/QĐ-KHVN).
Về cơ bản đây là sự kế thừa các mô hình học tập mà Hội đã triển khai nhiều năm qua; những quan điểm, nội dung đánh giá các tiêu chí đều nhằm mục đích đem lại sự hài lòng cho người dân về các mặt: giáo dục, học tập, kỹ năng sống, môi trường sống trong lành, an toàn, hạnh phúc trong cuộc sống.
Qua khảo sát việc thực hiện các mô hình học tập ở địa phương trong thời gian từ 2010 đến nay, sự đóng góp của Hội Khuyến học các cấp và hơn 28 triệu hội viên trong sự nghiệp trồng người: "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" là rất to lớn; có thể nêu một số kết quả do người dân tự đánh giá như sau:
1. Hội đã tuyên truyền, vận động nhân dân đẩy mạnh học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập thông qua các mô hình học tập từ cơ sở; qua đó, học tập trở thành phong trào gắn chặt với đời sống cộng đồng thôn bản, tổ dân phố, cơ quan, đơn vị vì sự phát triển của cộng đồng.
2. Hội đã khơi dậy truyền thống hiếu học lâu đời của dân tộc, làm động lực tinh thần để thúc đẩy từng người dân, từng gia đình, dòng họ, từng bản làng, tổ dân phố, từng cơ quan, tổ chức… tham gia vào việc học tập thường xuyên.
3. Các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài, xây dựng các mô hình học tập luôn đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của mọi người, mọi nhà nên được sự đồng tình, hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân và trở thành phong trào sâu rộng, bền vững. Việc chăm lo cho sự học là cách tốt nhất để hạn chế các hành vi, hoạt động không lành mạnh, tác động rõ rệt đến tình hình đảm bảo trật tự an ninh, an toàn trong cộng đồng, góp phần to lớn đem lại hạnh phúc cho nhân dân.
4. Về sự hài lòng của người dân đối với các cấp, các ngành: đa số nhân dân địa phương công nhận cấp ủy và chính quyền đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện cho người dân được học hành (90,4%); Hội khuyến học cấp xã đã tích cực vận động và giúp đỡ nhân dân học tập thường xuyên (91,1%); các lực lượng xã hội đã tích cực giúp đỡ, tạo điều kiện để người dân có thêm điều kiện học hành (91,9%).
5. Về tác dụng của các mô hình học tập: đa số người dân thừa nhận các mô hình học tập góp phần phát triển kinh tế địa phương (98,1%); có tác dụng làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế (96,2%); xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở tốt hơn (99,9%); góp phần bảo đảm an ninh và trật tự xã hội (100%); xây dựng khối đoàn kết trong khu dân cư (100%); giúp học sinh, sinh viên học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạt (99,7%) v.v…
6. Từ góc độ an sinh xã hội, khuyến học cùng với giáo dục thức đẩy sự học trong nhân dân sẽ góp phần quan trọng vào việc kiến tạo đời sống văn minh, công bằng. Được học hành đầy đủ, người dân sẽ có ý thức công dân, phát huy tinh thần dân chủ, tôn trọng pháp luật, tham gia tích cực vào đời sống xã hội, góp phần tạo nên sự ổn định chính trị. Đó là những tiền đề cần thiết để phát triển bền vững.
7. Lan tỏa sự học góp phần củng cố thế trận lòng dân như thế nào?
Trải qua hơn 2 thập kỷ, Hội Khuyến học Việt Nam đã làm tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao, đó là xây dựng thành công các mô hình học tập (trong đó có mô hình công dân và giá đình học tập), thúc đẩy học tập suốt đời, lan tỏa sự học trong "bối cảnh số" nhằm nâng cao dân trí... Đây là nền tảng cốt lõi để góp phần củng cố "thế trận lòng dân". Việc nâng cao nhận thức, lan tỏa tri thức giúp người dân hiểu đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước, tính nhân văn của xã hội Việt Nam, xây dựng niềm tin và sự đồng thuận cao, tạo ra "phòng tuyến mềm" bền vững, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, và cả không gian mạng.
Việc lan tỏa tri thức, "xây dựng những giá trị đúng đắn" không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống, cũng tức là nâng cao chỉ số hạnh phúc, mà còn giúp mỗi người dân trở thành một chiến sĩ trong việc giữ vững an ninh và sự ổn định của đất nước. Hãy cùng phân tích việc "lan tỏa tri thức" đem lại giá trị gì đối với hạnh phúc của nhân dân? Có thể điểm qua một số hiệu quả của "lan tỏa tri thức":
Nâng cao nhận thức và tri thức: Sự học giúp người dân phân biệt đúng sai, đặc biệt là trên không gian mạng, góp phần xây dựng "phòng tuyến mềm" vững chắc trước các thông tin sai lệch; lan tỏa các giá trị nhân văn, tốt đẹp.
Xây dựng niềm tin: Khi dân trí cao, sự thấu hiểu giữa người dân và chính quyền được củng cố, tạo ra sự đồng thuận, tạo nền móng vững chắc cho sức mạnh quốc gia, tương tự như các bài học lịch sử về "thế trận lòng dân".
Chuyển đổi số và thế trận số: Việc học tập và ứng dụng công nghệ (số hóa) nâng cao năng lực cho người dân, chuyển đổi từ thế trận lòng dân truyền thống sang "thế trận số" trên không gian mạng, tăng cường năng lực tự bảo vệ.
IV. Thúc đẩy "Khuyến học số" trong thời kỳ chuyển đổi số
Việc thúc đẩy "Khuyến học số" trong giai đoạn 2026-2030 là hết sức quan trọng vì đây là giai đoạn triển khai râu rộng Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đẩy mạnh khuyến học số cũng đồng thời là cách tốt nhất để thực hiện sứ mệnh của Hội KHVN là lan tỏa tri thức nhanh và rộng khắp đến mọi tầng lớp nhân dân; đó là cách mà Hội góp phần mang lại hạnh phúc cho người dân thông qua sự ứng dụng hiệu quả của tri thức công nghệ mới.
Trong giai đoạn "kỷ nguyên số", Hội Khuyến học Việt Nam cần tiếp tục làm gì để cùng với Giáo dục có thể "quyết định tương lai dân tộc"? (theo Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị).
Về quan điểm chung, chúng ta không thể nằm ngoài xu hướng của thế giới là đi theo mô hình kinh tế tri thức, lấy tri thức, thông tin, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm tư liệu sản xuất chủ yếu. Để hội nhập được với quốc tế, ngang tầm với quốc tế mà vẫn giữ được bản sắc, vị thế, bất kỳ quốc gia nào cũng phải có nguồn nhân lực riêng, chất lượng cao. Chỉ có nền giáo dục hiện đại cùng với công tác khuyến học được "số hóa" mới đáp ứng được những điều kiện ấy. Với Việt Nam, điều đó càng quan trọng, vì không chỉ là theo kịp, còn phải vươn lên đón đầu, để hòa vào dòng chảy phát triển toàn cầu. Một số định hướng có thể là:
1. Tuyên truyên, đẩy mạnh "khuyến học số"; nó được bắt đầu bằng những "công dân học tập số" và những "gia đình công nghệ". Muốn vậy, công việc hàng đầu là khẩn trương, nhanh chóng, tạo mọi điều kiện để hoàn thành tốt Phong trào "Bình dân học vụ số" (do Thủ tướng Chính phủ phát động) - Nền móng của ngôi nhà số.
Không chỉ là chuyện không để ai bị bỏ lại phía sau trong chuyển đổi số quốc gia, đây còn là nền tảng giúp mọi công dân tiếp cận kỹ năng số, biết sử dụng dịch vụ công trực tuyến và công nghệ mới, góp phần rút ngắn khoảng cách số, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội bền vững. Muốn có một nền kinh tế số, xã hội số, phải có nguồn nhân lực công nghệ tức là những "Công dân số". "Bình dân học vụ số" là bước đi đầu tiên, khi càng vững chắc sẽ càng đi được xa.
2. Trang bị năng lực số cho công dân. Ngoài việc biết sử dụng công nghệ cơ bản, cần tăng cường năng lực tư duy sáng tạo, tư duy phản biện, phân tích dữ liệu, làm chủ công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa (theo Tiêu chí công dân học tập số giai đoạn 2026-2030)...
Ngoài truyền đạt kiến thức trong nhà trường, xã hội học tập mà ta đang xây dựng phải trở thành môi trường để hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu và khả năng thích ứng linh hoạt trước sự thay đổi hết sức nhanh chóng. Ứng dụng công nghệ số để chuyển mạnh sang phát triển kỹ năng; từ tiếp nhận thụ động sang trải nghiệm sáng tạo; bằng nhiều hình thức: Lớp học mở trực tuyến, lớp học mô phỏng thực tế ảo, phổ cập AI - trí tuệ nhân tạo; tăng cường liên kết nhà trường - doanh nghiệp - xã hội...
3. Phối hợp các lực lượng mà nòng cốt là ngành giáo dục và Hội Khuyến học trong việc "liên kết số" nhằm đổi mới toàn diện chương trình và phương pháp giáo dục, hình thành một "văn hóa học tập" và "văn hóa giáo dục" theo hướng gắn nhiệm vụ giáo dục với nhu cầu phát triển của đất nước và xu hướng toàn cầu. Hướng tới đào tạo nhân lực chất lượng cao, kỷ luật tốt, mang tính cạnh tranh cao.
Ở đây có sự trùng hợp về thu thập dữ liệu học tập giữa phần mềm "đánh giá công dân học tập" của Hội Khuyến học và phần mềm xây dựng "Hồ sơ học tập suốt đời" của công dân do Bộ GDĐT chủ trì. Cần có sự phối hợp, huy động nguồn lực, liên kết công nghệ để dữ liệu 2 bên (phần mềm) có thể dùng chung, được sự dụng và lưu trữ đồng thời theo quy trình thống nhất.
4. Triệt để học tập và làm theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự "học không bao giờ cùng" trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh hoạt động Trao học bổng thường niên cho các tầng lớp nhân dân, nhằm động viên, khuyến khích hình thành một nét văn hóa mới cho việc lan tỏa tinh thần "học tập suốt đời"; bên cạnh đó cũng cần huấn luyện, đào tạo cán bộ "vừa hồng, vừa chuyên", có tài đức toàn diện, lấy đức làm gốc.
Ngoài việc đào tạo đội ngũ nhà giáo giỏi của ngành giáo dục, do công nghệ thay đổi chóng mặt, Hội Khuyến học cũng phải xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên nghiệp hóa và số hóa hoạt động để hình thành mô hình công dân mới có ý chí, kỷ cương, hăng say, có tinh thần học tập suốt đời, tiếp cận tri thức, công nghệ mới… để tự mình không bị bỏ lại phía sau.
Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước Tô Lâm đã khẳng định: Hơn bao giờ hết, chúng ta phải coi đầu tư cho giáo dục (trong đó có khuyến học) chính là đầu tư cho tương lai, cho sự phát triển bền vững và hùng cường của đất nước. Chúng ta quyết tâm đồng lòng xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, nhân văn, hội nhập, góp phần làm rạng danh dân tộc, đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong ước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Văn kiện Đại hội Đảng CSVN lần thứ XIV
- Các Đề án, Chương trình của Thủ tướng Chính phủ về "Xây dựng xã hội học tập" giai đoạn 2021 - 2030: Quyết định 1373/QĐ-TTg ngày 30/7/2021; Quyết định 387/QĐ-TTg ngày 25/3/2022; Quyết định 677/QĐ-TTg ngày 03/6/2022; Quyết định 1315/QĐ-TTg ngày 09/11/2023
- Kế hoạch 123/KH-KHVN của Hội KHVN thực hiện Quyết định 387
- Kế hoạch 196/KH-KHVN của Hội KHVN thực hiện Quyết định 677
- Quyết định 242/QĐ-KHVN của Hội KHVN ban hành Bộ tiêu chí theo QĐ 387
- Quyết định 324/QĐ-KHVN của Hội KHVN ban hành Bộ tiêu chí theo QĐ 677
*Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn - Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/muc-tieu-vi-hanh-phuc-nhan-dan-va-vai-tro-cua-hoi-khuyen-hoc-viet-nam-179260602141148304.htm
