Kiểm định chương trình đào tạo đại học bỏ cào bằng, chuyển sang quản lý rủi ro
Sự thay đổi trong dự thảo sửa đổi Thông tư 04/2025/TT-BGDĐT phản ánh định hướng chuyển dịch trong quản lý giáo dục. Thay vì quy định kiểm định chương trình đào tạo đại học đồng loạt, dự thảo tập trung phân loại theo các căn cứ cụ thể, ưu tiên nguồn lực cho các ngành trọng điểm và tăng cường cơ chế trách nhiệm giải trình.

Ngành sức khỏe sẽ thuộc diện kiểm định bắt buộc. Ảnh: Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế
Phân loại kiểm định chương trình đào tạo đại học theo mức độ rủi ro
Thực tế triển khai thời gian qua cho thấy việc cào bằng quy định kiểm định chương trình đào tạo đại học dễ dẫn đến tâm lý ứng phó, làm gia tăng gánh nặng hành chính cho các cơ sở giáo dục.
Việc loại bỏ yêu cầu kiểm định diện rộng giúp phân định rõ vai trò quản lý nhà nước đối với từng nhóm ngành:
Nhóm bắt buộc định kỳ: Các ngành giáo viên, sức khỏe và pháp luật tiếp tục duy trì kiểm định bắt buộc do tác động trực tiếp đến an sinh, sức khỏe và thể chế.
Nhóm kiểm định theo căn cứ: Áp dụng đối với các ngành được ưu tiên đầu tư ngân sách, có phương thức đào tạo đặc thù hoặc có dấu hiệu vi phạm qua kết luận thanh tra, kiểm tra.
Ngoại trừ các ngành bắt buộc, việc xác định đối tượng kiểm định dựa trên các căn cứ cụ thể giúp tối ưu hóa nguồn lực của cả cơ sở đào tạo lẫn các tổ chức đánh giá.
Cởi trói tự chủ và tối ưu chi phí kiểm định chương trình đào tạo đại học
Việc xóa bỏ tỷ lệ kiểm định bắt buộc chung giúp các cơ sở giáo dục đại học chủ động hơn trong định hướng phát triển.
Cụ thể, các nhà trường được toàn quyền lựa chọn kiểm định những chương trình đào tạo thực sự mang tính chiến lược, phù hợp với nguồn lực tài chính và mục tiêu xây dựng thương hiệu trong từng giai đoạn.
Đồng thời, việc cắt giảm các đợt kiểm định diện rộng mang tính hình thức giúp tiết kiệm đáng kể ngân sách lẫn thời gian vận hành, tạo khoảng trống tài chính để các trường tập trung nguồn lực tái đầu tư trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học và nâng cấp cơ sở vật chất.
Thách thức trong giám sát chất lượng khi không kiểm định đồng loạt
Việc thu hẹp phạm vi bắt buộc không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các đợt đánh giá định kỳ, công tác quản lý chất lượng chuyển sang hình thức giám sát dựa trên dữ liệu vận hành liên tục:
Công khai thông tin: Các trường phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tự đánh giá, công khai kết quả thực hiện chuẩn đầu ra và giải trình trước xã hội.
Chuyển đổi số trong hậu kiểm: Khi loại bỏ cơ chế kiểm định diện rộng, việc kết nối và đồng bộ hóa Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục đại học đóng vai trò then chốt. Đây chính là nền tảng cốt lõi giúp cơ quan quản lý thực hiện công tác hậu kiểm dựa trên dữ liệu thời gian thực mà không cần can thiệp bằng các đoàn đánh giá trực tiếp.
Thước đo từ thị trường: Đối với các chương trình không thuộc diện bắt buộc, mức độ hài lòng của người học và tỷ lệ tuyển dụng của thị trường lao động sẽ trở thành kênh kiểm chứng chất lượng tự nhiên.
Sự thay đổi trong định hướng kiểm định chương trình đào tạo đại học đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực tự quản trị của các nhà trường.
Khi rào cản thủ tục mang tính hình thức được gỡ bỏ, hiệu quả thực chất của công tác bảo đảm chất lượng sẽ phụ thuộc vào tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của từng cơ sở đào tạo.
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/kiem-dinh-chuong-trinh-dao-tao-dai-hoc-bo-cao-bang-chuyen-sang-quan-ly-rui-ro-179260904111228587.htm

