Để các hội quần chúng thực sự trở thành sức mạnh của nhân dân
Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 20/7/2026 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của các hội quần chúng trong giai đoạn phát triển mới đặt ra những yêu cầu mới cả về nhận thức, phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức hoạt động hội quần chúng.

Các đại biểu dự Đại hội và Ban chấp hành Liên minh hợp tác xã Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Đối với Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là cụ thể hóa tinh thần của Chỉ thị thành những chuyển biến thực chất, để mỗi tổ chức hội thực sự là nơi tập hợp, đoàn kết Nhân dân, khơi dậy trí tuệ, nguồn lực và tinh thần cống hiến cho đất nước.
Sau 14 năm thực hiện Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 28/8/2012 của Bộ Chính trị, tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng đã có những chuyển biến quan trọng. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên được nâng lên; thể chế, chính sách, pháp luật từng bước hoàn thiện; tổ chức các hội được sắp xếp, kiện toàn; nội dung, phương thức hoạt động từng bước đổi mới.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã đóng góp tích cực vào tập hợp, vận động Nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy những hạn chế không thể xem nhẹ. Có lúc, có nơi việc lãnh đạo, chỉ đạo đối với các hội chưa thường xuyên, chưa toàn diện; một số nội dung thể chế, chính sách chưa kịp thời, thiếu đồng bộ; phương thức hoạt động của một số hội chưa theo kịp thực tiễn, còn biểu hiện hành chính hóa, bị động, phụ thuộc vào ngân sách; năng lực tự chủ, tự quản, huy động nguồn lực xã hội và hiệu quả đóng góp thực chất còn hạn chế. Công tác quản lý nhà nước và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng có lúc, có việc chưa chặt chẽ, đồng bộ.
Chính từ thực tiễn ấy, Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị không chỉ là sự kế thừa mà còn thể hiện bước phát triển mới trong tư duy về công tác hội quần chúng. Trong giai đoạn đất nước đang đặt ra yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội, các hội quần chúng được xác định là lực lượng quan trọng trong tập hợp, vận động Nhân dân, kết nối, huy động nguồn lực, tạo động lực trong các giai tầng xã hội, tham gia xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Nguyên Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, GS.TS Nguyễn Thị Doan; Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tới; Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hà Thị Nga dự Đại hội VII Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.
Đây cũng chính là điểm xuất phát để xác định trách nhiệm tổ chức thực hiện Chỉ thị trong Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.
Tăng cường lãnh đạo nhưng không hành chính hóa hoạt động hội
Trước hết, cần thống nhất sâu sắc nhận thức: công tác hội quần chúng là một nội dung quan trọng của công tác dân vận, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Vì vậy, lãnh đạo công tác hội không phải là nhiệm vụ riêng của một cơ quan hay một bộ phận, mà là trách nhiệm trực tiếp, thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng.
Trong Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, yêu cầu này càng có ý nghĩa đặc biệt bởi đây là Đảng bộ có nhiều tổ chức đảng gắn trực tiếp với công tác vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân và các hội quần chúng.
Các cấp ủy trong các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ cần phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân chính trị; lãnh đạo tổ chức hội cụ thể hóa Chỉ thị phù hợp với tôn chỉ, mục đích, điều lệ và đặc điểm của từng tổ chức; đồng thời đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao năng lực tự chủ, tự quản, huy động nguồn lực và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Nhưng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng không đồng nghĩa với hành chính hóa tổ chức hội. Đây là vấn đề cần đặc biệt chú ý trong tổ chức thực hiện.
Chỉ thị đặt ra yêu cầu rất rõ: phải tôn trọng tính tự nguyện, tự quản, tự trang trải kinh phí, tự chịu trách nhiệm của hội theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và điều lệ hội. Điều đó đòi hỏi phương thức lãnh đạo phải tiếp tục đổi mới theo hướng xác định đúng chủ trương, định hướng chính trị, phát huy vai trò của tổ chức đảng và đảng viên, tăng cường kiểm tra, giám sát; nhưng không bao biện, làm thay công việc của tổ chức hội.
Có thể nói ngắn gọn: tăng cường lãnh đạo nhưng không hành chính hóa; phát huy tự chủ, tự quản nhưng không buông lỏng lãnh đạo, quản lý, kiểm tra và giám sát. Giải quyết đúng mối quan hệ này là một trong những điều kiện quyết định hiệu quả thực hiện Chỉ thị.
Đổi mới thước đo: từ "có hoạt động" sang "hoạt động có hiệu quả"
Một yêu cầu có tính đột phá của Chỉ thị số 11-CT/TW là đổi mới cách nhìn nhận và đánh giá hoạt động của các hội.
Hoạt động hội phải lấy hội viên, Nhân dân và lợi ích quốc gia - dân tộc làm trung tâm; lấy hiệu quả đóng góp cho xã hội và mức độ hài lòng của hội viên, Nhân dân làm thước đo kết quả. Vì thế, không thể chỉ đánh giá một tổ chức hội thông qua số lượng hội viên, số hội nghị, số cuộc vận động hay số phong trào được tổ chức. Quan trọng hơn là tổ chức đó tập hợp được lực lượng nào, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên ra sao, tạo ra sản phẩm gì, huy động được nguồn lực nào và đóng góp thực chất như thế nào cho cộng đồng, xã hội và đất nước.
Đây là sự chuyển đổi rất đáng chú ý: từ coi trọng số lượng sang coi trọng chất lượng; từ hoạt động hình thức sang hiệu quả thực chất; từ tâm lý trông chờ, phụ thuộc sang chủ động, tự chủ; từ đánh giá bằng quá trình sang đánh giá ngày càng nhiều hơn bằng sản phẩm và kết quả.
Đối với Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, tinh thần đó cần được cụ thể hóa thành những tiêu chí có thể theo dõi, đánh giá. Mỗi tổ chức hội cần xác định rõ sản phẩm của mình, đối tượng mình phục vụ, nguồn lực có thể huy động và giá trị xã hội mà mình tạo ra.
Một tổ chức hội mạnh trước hết phải mạnh trong khả năng tập hợp hội viên, gắn bó với Nhân dân, nắm bắt và phản ánh được nhu cầu chính đáng của quần chúng; đồng thời phải có năng lực biến trí tuệ, kinh nghiệm và tinh thần cống hiến của hội viên thành những sản phẩm có ích cho xã hội.
Khơi thông nguồn lực xã hội, phát huy sức mạnh của đội ngũ trí thức và người có uy tín
Một trong những nguồn lực đặc biệt của các hội quần chúng là con người.
Trong nhiều tổ chức hội hiện nay tập hợp một lực lượng rất lớn các trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, nhà báo, luật gia, luật sư, doanh nhân và những người có uy tín trong các tầng lớp Nhân dân. Chỉ thị yêu cầu phải phát huy trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và tinh thần cống hiến của lực lượng này, tạo môi trường để họ tham gia thiết thực vào xây dựng chính sách, phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, văn hóa và giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Đây là một dư địa rất lớn cần được khai mở.
Tập hợp được người tài mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là phải tạo được cơ chế để trí tuệ của họ được sử dụng, sáng kiến của họ được tiếp nhận, kinh nghiệm của họ được chuyển hóa thành giá trị xã hội và tinh thần cống hiến của họ được khơi dậy.
Do đó, từng hội cần xác định rõ thế mạnh đặc thù của mình. Hội của giới khoa học phải tạo ra đóng góp khoa học; hội nghề nghiệp phải nâng cao chất lượng nghề nghiệp và cung cấp các giá trị chuyên môn; các tổ chức tập hợp trí thức phải tham gia tư vấn, phản biện chính sách; những hội có thế mạnh xã hội, nhân đạo, văn hóa phải tạo được những mô hình, sản phẩm cụ thể phục vụ Nhân dân.
Cùng với đó là yêu cầu nâng cao hiệu quả đối ngoại Nhân dân, hợp tác quốc tế và đặc biệt là chuyển đổi số; xây dựng, cập nhật, quản lý, liên thông dữ liệu về tổ chức hội, hội viên; ứng dụng nền tảng số trong quản trị, điều hành, kết nối hội viên và tổ chức hoạt động.
Rõ chức năng, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm
Một vấn đề khác có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả thực hiện Chỉ thị là phân định đúng vai trò của từng chủ thể.
Tinh thần của Chỉ thị rất rõ: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp, định hướng, phối hợp hoạt động; các hội tự chủ, tự quản, hoạt động theo pháp luật và điều lệ hội.
Đây không chỉ là sự phân công về chức năng mà còn là nguyên tắc để xử lý hai khuynh hướng đều cần tránh: một mặt là chồng chéo, can thiệp hành chính quá sâu vào hoạt động tự chủ của hội; mặt khác là buông lỏng lãnh đạo, quản lý hoặc để bỏ trống trách nhiệm.
Trong Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, quá trình thực hiện Chỉ thị vì vậy cần quán triệt phương châm: đúng chức năng, đúng thẩm quyền, rõ trách nhiệm; phối hợp chặt chẽ nhưng không làm thay. Những vấn đề thuộc thẩm quyền phải chủ động giải quyết; những vấn đề vượt thẩm quyền phải kịp thời tổng hợp, báo cáo và đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét. Đây cũng chính là yêu cầu được đặt ra đối với các cơ quan, đơn vị trong Đảng bộ khi triển khai Chỉ thị.
Cùng với đó, cần từng bước đổi mới cơ chế tài chính theo hướng nguồn lực của Nhà nước phải gắn với nhiệm vụ cụ thể, sản phẩm đầu ra và hiệu quả hoạt động; mở rộng cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu cung cấp dịch vụ công đối với những nhiệm vụ phục vụ lợi ích công. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của các hội gắn với tôn chỉ, mục đích, chất lượng phục vụ hội viên, khả năng huy động nguồn lực, sản phẩm đầu ra và mức độ đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ Nhân dân.
Như vậy, nhiệm vụ – nguồn lực – sản phẩm – hiệu quả phải trở thành một chuỗi thống nhất. Có giao nhiệm vụ thì phải xác định sản phẩm; có sử dụng nguồn lực thì phải đánh giá hiệu quả; có tổ chức hoạt động thì phải xem xét giá trị mang lại cho hội viên, Nhân dân và xã hội.
Biến Chỉ thị thành chuyển biến thực chất từ cơ sở
Bộ Chính trị giao Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò chủ trì, nòng cốt trong đoàn kết, tập hợp, phối hợp, định hướng hoạt động của các hội quần chúng; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương, đơn vị theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện Chỉ thị; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Đó vừa là nhiệm vụ, vừa là trách nhiệm chính trị quan trọng của Đảng bộ trong giai đoạn mới.
Để thực hiện tốt, trước hết từng cấp ủy, tổ chức đảng phải chuyển nội dung Chỉ thị thành chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ cụ thể, gắn với chức năng của từng tổ chức. Các ban tham mưu, giúp việc Đảng ủy phải nâng cao chất lượng tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và theo dõi thực hiện. Các ban chuyên môn của Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phát huy vai trò tham mưu cho Ban Thường trực trong tập hợp, định hướng, phối hợp hoạt động; chủ động nắm tình hình, phát hiện khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp.
Quan trọng hơn, việc thực hiện Chỉ thị phải đi đến tận cùng của hiệu quả. Không để tình trạng quán triệt rất đầy đủ, kế hoạch rất nhiều nhưng hoạt động thực tế của hội chuyển biến chậm. Không lấy số lượng văn bản đã ban hành, hội nghị đã tổ chức hay báo cáo đã hoàn thành làm kết quả cuối cùng.
Kết quả cuối cùng phải được thể hiện bằng những tổ chức hội hoạt động thiết thực hơn; hội viên gắn bó hơn; nguồn lực xã hội được huy động tốt hơn; quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên và Nhân dân được chăm lo tốt hơn; chất lượng tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, giám sát và phản biện xã hội được nâng lên; ngày càng có nhiều sản phẩm, sáng kiến, mô hình và đóng góp cụ thể cho đất nước.
Chỉ thị số 11-CT/TW vì thế cần được nhìn nhận không đơn thuần là một yêu cầu tăng cường quản lý đối với các hội, mà sâu xa hơn là yêu cầu khơi thông và phát huy một nguồn lực xã hội rất lớn đang hiện hữu trong Nhân dân.
Trong giai đoạn phát triển mới, sức mạnh đất nước không chỉ nằm ở nguồn lực của Nhà nước mà còn nằm trong trí tuệ, kinh nghiệm, khát vọng và tinh thần cống hiến của hàng triệu hội viên, đoàn viên và các tầng lớp Nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng chính là những không gian quan trọng để tập hợp, kết nối và chuyển hóa nguồn lực đó thành sức mạnh phát triển.
Bởi vậy, yêu cầu xuyên suốt trong tổ chức thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW là phải tạo được chuyển biến thực chất: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhưng không hành chính hóa hoạt động hội; phát huy tự chủ, tự quản nhưng không buông lỏng quản lý, kiểm tra, giám sát; tạo điều kiện cho các hội phát triển nhưng phải hướng tới hiệu quả thực chất, lấy hội viên, Nhân dân và lợi ích quốc gia - dân tộc làm trung tâm.
Làm được điều đó cũng chính là góp phần để các hội quần chúng ngày càng thực sự trở thành những cầu nối bền chặt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là nơi quy tụ trí tuệ, khơi dậy tinh thần cống hiến, huy động nguồn lực xã hội; qua đó củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.
Tác giả: Tiến sĩ Nguyễn Minh Chung, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/de-cac-hoi-quan-chung-thuc-su-tro-thanh-suc-manh-cua-nhan-dan-179260909092821155.htm

