Chọn ngữ liệu thiết kế đề kiểm tra Ngữ văn để phát huy năng lực, phẩm chất học sinh
Các trường trung học phổ thông trên cả nước đang bước vào giai đoạn xây dựng ma trận và biên soạn đề kiểm tra giữa học kỳ I. Một trong những trăn trở lớn nhất của đội ngũ nhà giáo Ngữ văn là khâu chọn ngữ liệu để thiết kế đề kiểm tra Ngữ văn nhằm phát huy năng lực, phẩm chất học sinh.

Học trò Trường Trung học phổ thông Nguyễn Trãi, Tây Ninh. Ảnh: TVT
Việc đưa ngữ liệu ngoài sách giáo khoa vào đề kiểm tra, đề thi môn Ngữ văn là tất yếu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 nhằm chấm dứt nạn "học vẹt", văn mẫu. Đổi mới tư duy kiểm tra đánh giá không đồng nghĩa với việc dễ dãi trong khâu thẩm định văn bản.
Hiện nay, các trường trung học phổ thông trên cả nước đang bước vào giai đoạn xây dựng ma trận và biên soạn đề kiểm tra giữa học kỳ I.
Một trong những trăn trở lớn nhất của đội ngũ nhà giáo Ngữ văn là khâu chọn ngữ liệu. Bởi lẽ, ngữ liệu chính là công cụ trực tiếp đo lường năng lực đọc hiểu và tư duy ngôn ngữ của học sinh.
Dù đề kiểm tra được xây dựng theo hình thức tự luận hay trắc nghiệm khách quan kết hợp tự luận, thì ngữ liệu vẫn là "linh hồn" của toàn bộ cấu trúc đề.
Từ đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông các năm 2025 và 2026, giáo viên đứng lớp có thể rút ra nhiều bài học đắt giá khi thiết kế đề kiểm tra.
Áp lực chọn ngữ liệu đề kiểm tra, đề thi
Đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 từng nhận được lời khen từ giới chuyên môn nhờ ngữ liệu hay. Đoạn trích được lựa chọn từ truyện ngắn "Những vùng trời khác nhau" của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Tác phẩm sáng tác từ năm 1970, vượt qua hơn nửa thế kỷ thử thách của thời gian. Dù không nằm trong sách giáo khoa hiện hành, nhưng tầm vóc của "người mở đường tinh anh", kết hợp cùng đề tài quen thuộc về tình yêu quê hương hòa quyện trong tình đồng chí, đã tạo nên một đề thi vừa sức, giàu chất văn và khơi gợi cảm xúc chân thật cho thí sinh.
Ngược lại, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 lại dấy lên nhiều băn khoăn, tranh luận trong dư luận xã hội khi ngữ liệu chính thức được trích từ cuốn sách "Code và Cát - Những quyền lực công nghệ xoay chuyển thế giới".
Đáng nói, tác phẩm chỉ mới xuất bản vào tháng 3/2026 của một tác giả còn khá mới mẻ trên văn đàn. Đồng thời, văn bản vừa ra đời mới vài tháng, chưa hề trải qua sự sàng lọc, thẩm định từ giới nghiên cứu và độc giả. Do đó, ngữ liệu chưa đủ làm thước đo năng lực cho hàng triệu học sinh trên cả nước.
Bên cạnh đó, đề thi đợt thi lại của năm 2026 với ngữ liệu nghị luận bàn về "An ninh văn hóa" (trích từ bài viết của Bùi Hoài Sơn) cũng đặt ra một góc nhìn đáng suy ngẫm khác. Việc đưa một vấn đề mang tính thời sự, chính luận vào phần Đọc hiểu và Viết là hướng đi phù hợp để đo lường tư duy xã hội của học sinh. Tuy nhiên, tính đặc thù của các văn bản chính luận nằm ở chỗ: lập luận phải thật chặt chẽ, khái niệm phải tường minh để học sinh không hoang mang khi làm bài.
Là một giáo viên từng tham gia công tác biên soạn đề thi, tôi thấu hiểu áp lực nặng nề của ban ra đề. Khi bước vào khu vực cách ly tuyệt đối - không Internet, mọi kênh đối chiếu thông tin bên ngoài đều bị cắt đứt - việc thẩm định ngữ liệu phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn sách, tài liệu in được mang vào.
Đưa ra một tác phẩm quá mới, chưa qua thử thách thời gian hay một văn bản có độ mở quá chông chênh là sơ hở về quy trình thẩm định nguồn. Cần khẳng định rõ: Tính "mới" của ngữ liệu không nằm ở việc cuốn sách mới xuất bản hay tác giả mới xuất hiện, mà nằm ở góc nhìn mới, cách đặt vấn đề sâu sắc và giá trị nhân văn bền vững trên nền tảng tri thức chuẩn xác.
Bài học cốt lõi cho giáo viên khi thiết kế đề kiểm tra
Từ những bài học thực tế trên, khi thiết kế đề kiểm tra định kỳ giữa học kỳ I, mỗi tổ chuyên môn và từng giáo viên cần khắc ghi những nguyên tắc bất biến sau:
Chuẩn mực về thể loại và đặc trưng thi pháp. Ngữ liệu phải tương đồng với kiểu văn bản học sinh đã được rèn luyện trong chương trình. Văn bản được chọn phải là tiêu biểu cho thi pháp thể loại đó, giúp học sinh nhận diện và vận dụng đúng các tri thức thể loại đã học thay vì đánh đố bằng những thể nghiệm ngôn từ lỏng lẻo.
Tác phẩm phải trải qua thử thách của thời gian. Thầy cô nên ưu tiên những tác giả có vị thế, những tác phẩm đã trải qua sự thẩm định của thời gian và được khẳng định về mặt giá trị. Nếu chọn tác phẩm đương đại, giáo viên phải thẩm định kỹ lưỡng tính chuẩn xác của cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa và độ chặt chẽ trong tư duy lập luận của tác giả.
Phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi và phông văn hóa. Văn bản phải mang thông điệp nhân văn rõ ràng, có nguồn gốc trích dẫn tường minh, chính thống; tránh những ngữ liệu mang tính tranh cãi tiêu cực, phiến diện hoặc mang tính triết lý hàn lâm vượt quá trải nghiệm nhận thức của học sinh phổ thông.
Bảo vệ tư duy phản biện của học sinh. Một ngữ liệu tốt không được đặt học sinh vào thế hoang mang trước những lỗi diễn đạt hay sự khiên cưỡng về mặt logic. Đề phải là mảnh đất màu mỡ để học sinh giỏi phát huy tư duy phân tích sắc sảo, tự tin bày tỏ chính kiến chứ không phải nơi các em phải phỏng đoán "ý đồ của người ra đề" để làm bài một cách máy móc.
Đổi mới kiểm tra, đánh giá là một hành trình dài đầy trách nhiệm và thử thách. Nếu như tác phẩm trong sách giáo khoa phải bước qua nhiều vòng thẩm định thì mỗi ngữ liệu đưa vào đề kiểm tra cũng đòi hỏi sự phản biện, cân nhắc nghiêm cẩn từ chính tổ chuyên môn. Cẩn trọng với từng con chữ trong ngữ liệu chính là cách người thầy tôn trọng học sinh và giữ trọn sự công bằng, nhân văn cho môn học.
Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/chon-ngu-lieu-thiet-ke-de-kiem-tra-ngu-van-de-phat-huy-nang-luc-pham-chat-hoc-sinh-179261007162226883.htm

