Các chuyên đề quan trọng tại Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 3, khóa XIV

12:00 - 29/07/2026

Sáng 29/7, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự hội nghị và có bài phát biểu quán triệt quan trọng.

Các chuyên đề quan trọng tại Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 3, khóa XIV - Ảnh 1.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 3, khóa XIV tại điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội. Ảnh: VGP

Tham dự hội nghị có các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.

Cùng các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội đến các điểm cầu ở các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV họp từ ngày 20-24/7 tại Thủ đô Hà Nội.

Sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước; đoàn kết, thống nhất, chung sức đồng lòng; nêu cao ý chí tự lực, tự cường, đổi mới, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Trong phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: Thành công của Hội nghị, mới là bước đầu. Tình hình thế giới sẽ còn diễn biến nhanh, phức tạp, thời cơ và thách thức đan xen. Càng trong hoàn cảnh đó, càng phải kiên định mục tiêu, giữ vững nguyên tắc, đoàn kết, kỷ cương; chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

"Với sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, quyết liệt của Đảng; sự đồng hành, ủng hộ của nhân dân; tinh thần trách nhiệm, cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc, chúng ta nhất định thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đưa các quyết sách của Trung ương thành kết quả cụ thể trong cuộc sống", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.

Theo chương trình, tại hội nghị, các đại biểu sẽ nghe các đồng chí lãnh đạo truyền đạt, quán triệt các chuyên đề về: Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển;

Nghị quyết về Chiến lược An ninh quốc gia; Kết luận về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới; Kết luận về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; "Về sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng"; "Quy định về những điều đảng viên không được làm".

Các chuyên đề quan trọng tại Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 3, khóa XIV - Ảnh 2.
Các chuyên đề quan trọng tại Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 3, khóa XIV - Ảnh 3.

Cán bộ trung ương Hội Khuyến học Việt Nam tổ chức học tập trực tuyến quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 3, khóa XIV sáng 29/7/2026. Ảnh: Tuấn Anh

Chuyển mạnh từ phát triển kinh tế biển sang xây dựng quốc gia biển mạnh

Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam thành quốc gia biển mạnh, tập trung vào quản trị biển, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững đến 2030.

Nghị quyết đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo; các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn.

Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết xác định rõ vai trò của biển là không gian phát triển chiến lược, là nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Xây dựng quốc gia biển mạnh là chiến lược lâu dài gắn chặt với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải có nền quản trị biển hiện đại, kinh tế biển phát triển, khoa học công nghệ biển tiên tiến, môi trường bền vững, văn hóa giàu bản sắc, cộng đồng cư dân giàu mạnh, quốc phòng-an ninh vững chắc và hội nhập quốc tế thực chất.

Cùng với đó, đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh và quản trị biển hiện đại; chuyển từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển sang phát triển quốc gia biển mạnh, từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia.

Hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh là đột phá chiến lược; phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, khơi thông tiềm năng, lợi thế của biển, hải đảo; hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, hành lang kinh tế biển, gắn kết đất liền-biển-hải đảo và các không gian phát triển mới.

Nghị quyết nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chính cho phát triển quốc gia biển mạnh, trọng tâm đẩy mạnh điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển, làm chủ công nghệ biển và đại dương.

Nghị quyết cũng xác định phát triển quốc gia biển mạnh trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển theo hướng xanh, thông minh, phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường biển, đại dương; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương; nâng cao khả năng chống chịu, năng lực phòng, chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro.

Quan điểm tiếp theo là phát huy sức mạnh tổng hợp, đề ra trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các nhóm chủ thể trong xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh.

Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân; bảo đảm đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội.

Phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn ra biển lớn; phát triển đất nước theo hướng biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.

Về mục tiêu, Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030; tầm nhìn đến năm 2045, trong đó có 6 nhóm mục tiêu cần đạt được trong giai đoạn 2026-2030 tạo tiền đề xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh, bao gồm các nhóm về: Kinh tế; Phát triển không gian biển, hạ tầng biển; Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; Văn hóa, xã hội; Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Nghị quyết xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, tập trung vào các nội dung: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia; Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh; Huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.

Các nhiệm vụ, giải pháp tiếp theo là: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao; Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới; Phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và khu vực; Bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, hải đảo.

Nghị quyết đề ra nhiệm vụ xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân, phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia.

Xác lập tư duy mới về an ninh quốc gia và xây dựng xã hội trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Chiến lược An ninh quốc gia xác định 6 quan điểm chỉ đạo, là sự cụ thể hóa tư duy, nhận thức mới của Đảng về an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia nêu trong Văn kiện Đại hội XIV. 

So với mục tiêu tổng quát trong Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia trước đây, Nghị quyết có bước phát triển mới khi bổ sung các nội hàm mới trong mục tiêu tổng quát, đồng thời xác định 7 mục tiêu cụ thể phải đạt được trong bối cảnh xuất hiện nhiều thách thức chưa có tiền lệ và yêu cầu bảo vệ an ninh ở cấp độ mới cao hơn. 

Trong đó, bảo vệ, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng, vai trò, vị trí hạt nhân lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn lãnh tụ, yếu nhân; tăng cường bảo vệ cán bộ cấp chiến lược, đội ngũ tinh hoa, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ. 

Tổ chức bảo vệ an ninh trên mọi lĩnh vực phát triển, trên các không gian mới theo nguyên tắc "phát triển đến đâu, an ninh đến đó". Tăng cường bảo vệ lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài. Triển khai đối ngoại và hội nhập quốc tế về an ninh tầm cao mới...

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu xác định, Nghị quyết đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó lần đầu tiên xác định các nhóm nhiệm vụ về: Bảo vệ vững chắc an ninh chế độ, an ninh thể chế, không để xảy ra bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; Bảo đảm an ninh các không gian, lĩnh vực mới nổi; chủ động ứng phó với các hình thái xâm phạm an ninh mới, các tình huống khủng hoảng; Nâng cao hiệu quả bảo đảm an ninh con người, phát huy sức mạnh lòng dân thật sự trở thành trụ cột của Chiến lược An ninh quốc gia; chính thức xác lập lộ trình bảo đảm an ninh con người toàn diện.

Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, hài hoà, phát triển là văn bản chiến lược đầu tiên của Đảng ta từ khi thành lập đến nay về xây dựng xã hội trật tự kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển, thành tố then chốt xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. 

Xác định mục tiêu tổng quát và 5 quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030 cơ bản tạo lập được nền tảng của xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển với 6 chỉ tiêu cụ thể, hướng đến mục tiêu xa hơn là năm 2045. Trong các chỉ tiêu cụ thể đó, đáng chú ý là kéo giảm bền vững tội phạm, vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội, tai nạn và các rủi ro xã hội; phấn đấu hằng năm giảm 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội, đến năm 2030 đạt ít nhất 50% số địa bàn cấp xã và 20% địa bàn cấp tỉnh không có ma túy.

Đồng thời, hoàn thành xây dựng Chính phủ số; Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và 50 nước dẫn đầu thế giới về Chính phủ điện tử và Chính phủ số và nhóm 15 quốc gia dẫn đầu thế giới về Chỉ số an ninh mạng toàn cầu. Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) đạt giá trị trung bình cả nước trên 88%.

Song song đó, bảo đảm đủ lớp, đủ trường, đủ giáo viên, đủ sách giáo khoa, thiết bị dạy học tối thiểu đáp ứng yêu cầu học tập của mọi lứa tuổi; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành cấp trung học phổ thông và tương đương; 100% người dân được khám sức khỏe hằng năm, hướng tới cơ bản miễn viện phí toàn dân; tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 3%; 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả; trên 95% hộ gia đình là "Gia đình văn hóa," trên 90% tổ dân phố, thôn đạt danh hiệu văn hóa, bảo đảm thực chất.

Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất. Các khu vực đô thị, nông thôn, nhất là các đô thị lớn và địa bàn trọng điểm cơ bản khắc phục được tình trạng mất trật tự, mỹ quan đô thị, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và ngập úng. Hình thành các địa phương kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.

Cùng với việc xác định 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết nêu rõ 3 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đột phá tập trung thực hiện tạo nền tảng, động lực và lan tỏa, gồm: Xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, văn hóa Đảng, văn hóa công vụ và kỷ cương xã hội; Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới; Xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo phát triển từ cơ sở.

Link nội dung: https://congdankhuyenhoc.vn/cac-chuyen-de-quan-trong-tai-hoi-nghi-quan-triet-trien-khai-nghi-quyet-trung-uong-3-khoa-xiv-179260729104149826.htm